Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa danh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa danh. Hiển thị tất cả bài đăng

Những sự thật thú vị về hang động Sơn Đoòng

Hang Sơn Đoòng thuộc quần thể hang động Phong Nha - Kẻ Bàng, tọa lạc tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nước ta. Cho tới nay, đây luôn được coi là hang động tự nhiên lớn nhất thế giới từng được phát hiện.

Hang Sơn Đoòng được phát hiện vì… trời mưa

Hang Sơn Đoòng được một người nông dân tên Hồ Khanh phát hiện năm 1991. Theo lời kể của Hồ Khanh, khi đó anh làm nghề tìm trầm trong rừng. Trong một lần đi làm anh gặp một cơn mưa rừng lớn, lo sợ sẽ có lũ quét, Hồ Khanh đã quyết định tìm chỗ trú mưa. Thật tình cờ, anh đã trú mưa… đúng tại hang Sơn Đoòng.

Hang Sơn Đoòng bị mất tích trong… 15 năm

Vào thời điểm phát hiện hang Sơn Đoòng, anh Hồ Khanh không hề biết tới giá trị của hang động. Không lâu sau chuyến đi ấy, anh bỏ nghề tìm trầm và quay lại làm ruộng.

Suốt 15 năm sau đó, tung tích của hang động này vẫn nằm trong bóng tối. Mãi cho tới năm 2006, khi một đoàn thám hiểm của Hiệp hội Hoàng gia Anh tới tìm kiếm hang động mới ở Phong Nha - Kẻ Bàng, anh Khanh mới đem câu chuyện của mình kể cho họ nghe. Đó cũng là lúc chuyến hành trình tìm lại hang động năm xưa bắt đầu.

Hang Sơn Đoòng không được hiển thị trên… Google Earth

Tuy nhiên, chuyến đi tìm lại hang động năm xưa đã không hoàn toàn thành công. Tất cả những gì trong trí nhớ của anh Khanh đó là một hang động lớn, gió thổi mạnh 24/24 giờ.

Ngay cả khi được sự trợ giúp của các thiết bị khoa học tối tân và phần mềm Google Earth, đoàn thám hiểm vẫn không tìm được hang Sơn Đoòng. Phải tới năm 2009, anh Hồ Khanh mới chính thức tìm lại được hang động năm xưa.

Hang Sơn Đoòng "thừa sức" trở thành một sân đỗ máy bay

Theo các nhà địa chất học, hang Sơn Đoòng được hình thành cách đây khoảng 2 - 5 triệu năm, khi nước sông chảy ngang vùng đá vôi bị vùi lấp dọc theo một đường đứt gãy. Dòng nước gây xói món và tạo ra một đường hầm khổng lồ như ngày nay.

Kích thước của hang Sơn Đoòng rất lớn với chiều dài ít nhất là 5km, tương đương sức chứa khoảng 68 chiếc máy bay Boeing 777.

Thậm chí, con số này có thể lớn hơn bởi theo các nhà khoa học, những phương tiện hiện đại nhất ngày nay cũng chưa khám phá được hết chiều dài thực sự của hang động này.

Hang Sơn Đoòng được gọi là "Vạn Lý Trường Thành" của Việt Nam

Trong hang Sơn Đoòng, các chuyên gia phát hiện những vị trí có kích thước rất lớn. Một bức ảnh do nhiếp ảnh gia Carten Peter chụp tháng 5/2010 ghi nhận đoạn hang có bề rộng 91,44m và vòm cao gần 243,84m - hoàn toàn “nhét” vừa một tòa nhà cao 40 tầng ở New York.

Trang National Geographic thậm chí còn so sánh rằng, hang cao tới mức xếp chồng 25 chiếc xe bus hai tầng vào vẫn thoải mái.

Sự hùng vĩ và đồ sộ về cảnh quan của hang Sơn Đoòng khiến nó được thế giới vinh danh là “The Great Wall of Viet Nam” (hiểu là "Vạn Lý Trường Thành" của Việt Nam, giống như “The Great Wall of China” là Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc).

Vào hang Sơn Đoòng, du khách có thể tìm thấy… "vườn địa đàng" cho riêng mình

Không chỉ nổi tiếng về kích thước khổng lồ mà hang Sơn Đoòng còn được biết tới bởi sự đa dạng trong cảnh quan sinh vật.

Trong hang Sơn Đoòng, các nhà thám hiểm phát hiện cả một cánh rừng nguyên sinh với thảm thực vật phong phú, chưa hề có dấu vết con người. Các chuyên gia thậm chí đã gọi khu rừng trong hang này là “vườn địa đàng” nhằm tôn vinh vẻ đẹp tuyệt mĩ này.

Hang Sơn Đoòng sở hữu viên "ngọc trai" to bằng... quả bóng chày

Một điểm đặc biệt khác của hang Sơn Đoòng, đó chính là hệ thống nhũ đá và "ngọc trai" hang động khổng lồ. Trải qua hàng triệu năm dưới tác động của ngoại lực, Sơn Đoòng sở hữu những cột măng đá cao tới 70m.

Ngoài ra, người ta còn phát hiện những viên "ngọc trai" hang động (ngọc thạch bao bọc một loại hạt giống như ngọc trai dưới biển, thành phần chủ yếu là canxit) to bậc nhất thế giới ở Sơn Đoòng.

Thông thường, các viên "ngọc trai" dạng này chỉ có đường kính khoảng 1cm nhưng riêng ở Sơn Đoòng, chúng to bằng quả bóng chày.

Hang Sơn Đoòng thu hút cả siêu mẫu tới chinh phục

Với vẻ đẹp của mình, hang Sơn Đoòng thu hút rất nhiều khách du lịch với 98% là người nước ngoài. Trong số đó, có những gia đình cả ba thế hệ đều từng chinh phục hang động này, hay ngay cả các siêu mẫu như Jasmina Mala (người Czech) và thái tử Ahmed Hamdan (tới từ Abu Dhabi) cũng từng thám hiểm hang động lớn nhất thế giới ở Việt Nam.

Theo SonDoong
Xem thêm

Kon Tum đón đợi mùa hoa pơ-lang

Hoa pơ-lang còn có nhiều tên gọi khác là hoa gạo hay hoa mộc miên.

“Tây Nguyên ơi hoa rừng bao nhiêu thứ. Cánh hoa nào đẹp nhất rừng. Tây Nguyên ơi anh có nhớ buôn làng, nhớ người con gái. Nhớ cánh hoa pơ-lang đẹp nhất rừng Tây Nguyên” - Ca từ trong bài hát “Em là hoa pơ-lang” của nhạc sĩ Đức Minh đã gợi nhớ về hình ảnh những cô gái Tây Nguyên được ví von như bông hoa pơ-lang rực rỡ, tươi thắm…

Đầu xuân, khi nắng vàng từng giọt miên man nhả xuống miền đất này, tiết trời ấm áp, người ta lại được chiêm ngưỡng sắc hoa pơ-lang, nhắc nhở về loài cây mang tính biểu trưng cho vùng đất Tây Nguyên.

Cây pơ-lang thuộc họ gạo, có gai và bạnh vè ở góc, lá kép chân vịt mọc so le, hoa màu đỏ kết thành chùm và có đặc điểm là nở trước khi ra lá.

Đây là loài thực vật phổ biến rất thích hợp với thổ nhưỡng vùng Tây Nguyên, gắn liền với nếp sống văn hóa cũng như tâm linh từ ngàn đời của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Hoa pơ-lang còn có nhiều tên gọi khác là hoa gạo (cách gọi của người Việt) hay hoa mộc miên (cách gọi của người Hoa).
Hai cây pơ-lang ở làng Kon Tu Mơnây Sơ Lam phường Trường Chinh. Ảnh: L.S

Chuyện xưa kể rằng: Thuở xưa có đôi trai gái yêu nhau tha thiết và trong ngày vui khi nhà chàng trai mang lễ vật sang cầu hôn nhà cô gái thì bất ngờ có cơn mưa lớn cuốn trôi đi tất cả khiến việc nên duyên của đôi trẻ không thành. Quá uất ức, họ cùng dựng cây nêu để chàng trai lên trời tìm Yàng hỏi rõ nguyên cớ. Trước khi đi chàng có buộc vào tay cô gái một dải lụa đỏ thay lời thề nguyện sẽ nhất định trở về bên cô. Đáng tiếc thay, sau khi lên gặp được Yàng vì thấy sự tài năng và đức độ của chàng trai, Yàng đã giữ chàng ở lại làm thần. Và kể từ đó chàng trai không bao giờ được trở lại hạ giới để gặp cô gái nữa.

Ở nhà, cô gái hàng ngày mong ngóng nhưng bóng dáng người thương vẫn biền biệt. Quá đau buồn cô tìm đến cây nêu năm xưa quyết tâm đi lên trời tìm gặp người yêu, nhưng cây nêu cao quá, đường lên trời lại xa thăm thẳm cô thì mỏng manh lực kiệt. Cuối cùng cô chết đi, hoá thân thành loài cây bên cạnh cây nêu và dải lụa đỏ trên tay cô đã hóa thành những bông hoa pơ- lang rực rỡ tươi thắm...

Phải chăng bắt nguồn từ câu chuyện tình mang màu sắc huyền thoại kia mà từ đó pơ-lang đã gắn liền với lễ hội, đời sống của người Tây Nguyên một cách khăng khít. Hằng năm, trong các dịp tổ chức lễ hội, đồng bào thường dựng cây nêu giữa sân nhà rông và luôn trồng bên cạnh một cây pơ-lang non.

Kết thúc lễ hội, cây pơ-lang non đó sẽ được di dời trồng sang một vị trí khác. Theo quan niệm, cây pơ-lang non đó nếu phát triển tốt tươi thì chắc chắn những lời nguyện cầu của dân làng năm đó sẽ thành hiện thực.

Có một chi tiết rất thú vị về mối liên hệ giữa cây pơ-lang và cuộc sống thôn làng Tây Nguyên. Theo quan niệm của đồng bào nơi đây, khi đến một thôn, một làng nào muốn biết nơi đó giàu mạnh như thế nào chỉ cần đếm số lượng pơ-lang được trồng ở sân trước nhà rông. Nếu cây pơ-lang càng nhiều chứng tỏ thôn làng đó đã từng tổ chức nhiều lễ hội và cũng minh chứng rõ ràng nhất về khả năng kinh tế của cộng đồng dân làng…

Pơ-lang dường như đã trở thành biểu trưng cho vùng đất Tây Nguyên, được đi vào thi ca, nhạc họa, như “Quê hương ơi, Tây Nguyên ơi” với những lời ca tha thiết, say đắm lòng người:  “Anh ơi em sẽ là hoa pơ-lang đẹp nhất/Thứ hoa buôn làng quý/Cho anh thêm đẹp lòng”… Nhà thơ Vũ Hùng - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam cũng có chùm thơ 4 câu rất đẹp: “Hạt sương sa ướt bờ mi/Đóa hoa thảo nguyên hoang dã/Pơ-lang ửng hồng đôi má/Em cao nguyên mùa xuân về”; hay “Con trăng nghiên theo nóc làng/Em như pơ-lang chờ mong/Đêm anh cầu hôn trao vòng/Chạm tay sơn cước theo lòng cao nguyên”...

Với người Kon Tum, loài hoa này quá đỗi thân thuộc khi mỗi độ xuân về. Nó như khiến người ta trông ngóng, bồi hồi đợi chờ, như chàng trai trẻ lần đầu đón đợi người yêu trong lần hẹn hò. Tuy nhiên, loài cây này hiện giờ cũng dần ít đi.

Rải rác trong khu vực nội thành thành phố Kon Tum, ở địa bàn các phường Thắng Lợi, Thống Nhất, Trường Chinh…, hiện đang có một ít cây pơ-lang, hàng năm lặng lẽ đơm hoa thắm một góc trời.

Anh A Đôi- Giám đốc Sở Thông tin Truyền thông, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng đưa về trồng một cây pơ-lang trước Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch, nay cây lớn mạnh và đã ra được vài mùa hoa. Anh cho biết, loài cây này nếu không khéo gìn giữ, có lẽ thời gian nữa muốn biết cây pơ-lang chắc phải đi tìm ở những nơi xa, xa lắm...

Được biết, năm 2018 tỉnh ta sẽ tổ chức Tuần Văn hóa - Du lịch lần thứ 4, với Lễ hội Sắc thắm pơ-lang, có sự tham gia của các tỉnh Tây Nguyên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, An Giang và một số tỉnh của Lào, Campuchia, Thái Lan... Thời gian dự kiến diễn ra trong khoảng 5 ngày (từ 29/12/2018 đến 2/1/2019).

Chương trình này có tất cả 9 hoạt động, gồm: Triển lãm di sản văn hóa, trình diễn cây nêu truyền thống các dân tộc, Lễ hội đường phố "Sắc màu văn hóa", Liên hoan văn hóa ẩm thực, Hội trại sáng tác điêu khắc...; đặc biệt là giới thiệu 2 tuyến du lịch mới là chinh phục đỉnh Ngọc Linh gắn với vườn sâm Ngọc Linh và tuyến du lịch sinh thái Vườn quốc gia Chư Mom Ray, huyện Sa Thầy- nơi vẫn còn một vùng rừng rực đỏ hoa pơ- lang.

Ở Kon Tum, cây pơ-lang không chỉ là loài cây xuất hiện gần gũi trong cuộc sống hàng ngày, mà nó còn gắn bó với đời sống tâm linh, đời sống văn hóa và tình cảm của người dân tại chỗ. Với Lễ hội Sắc thắm pơ-lang, Kon Tum đang cố gắng giữ gìn, nâng niu một loài hoa đỏ rực rỡ, thân thiện và chất chứa sự hoang dã, kiêu sa khoe sắc dưới nắng vàng mỗi dịp xuân sang...

Theo Báo KonTum
Xem thêm

Bình yên giữa hàng còng

Có lẽ, chùa Prochum Meáp Chhưm Kiriram (tên khác là Krăng Krốch, tọa lạc ấp An Hòa, xã Châu Lăng, Tri Tôn) là ngôi chùa duy nhất trong tỉnh có hàng cây còng cổ thụ nối dài từ cổng đến bên trong, có bề dày lịch sử hàng trăm năm. Đặc trưng này khiến mọi người gần như quên bẵng tên thật của chùa, mà chỉ gọi dân dã, trìu mến là “chùa hàng còng”.

Chùa nằm trên trục đường chính, nhưng nếu lơ đãng một chút, khách phương xa sẽ không tìm thấy. Bởi, cổng chùa phủ đầy rêu phong, sương gió, lẩn khuất giữa dãy nhà dân, không đầy màu sắc nổi bật như những cổng chùa Khmer khác. Nhưng chỉ cần bước qua cổng, một hình ảnh rất đẹp đập vào mắt: đường đi vào chùa trải dài theo hàng cây còng, mà cây nào cũng có hoành to, 2-3 người ôm mới xuể. Các nhánh cây hướng vào nhau, tạo thành mái vòm thiên nhiên, che mát con đường, mang đến cảm giác bình yên đến lạ.

Chúng tôi ghé chùa vào một buổi trưa mưa bão. Hàng cây còng vẫn giang rộng cành lá che chở con đường, giọt mưa phải len lỏi qua kẽ lá mới rớt xuống được. Trong tiếng mưa rả rích, chúng tôi nghe chuyện từ sãi cả Chau Vanh (pháp danh Wath Thiêk Thommô, trụ trì chùa). Vị sãi cả ấy đã gần lục tuần, với 29 năm gắn bó tại chùa, nói tiếng Kinh rất tốt.

“Prochum Meáp Chhưm Kiriram” có nghĩa là “ngôi chùa ở giữa núi”, còn “Krăng” là gò cao, “Krốch” là bưởi rừng. Năm 1608, chùa được xây dựng ở trên một gò cao, đầy bưởi rừng, lại được bao xung quanh là núi” - sãi cả Chau Vanh cho biết. Tay ông lần tìm một mảnh giấy cũ từ trong ví, mà theo ông là có bút tích của một vị sãi cả đời trước ghi lại năm xây dựng chùa, tên 21 vị sãi cả, được lưu giữ cẩn thận đến giờ.

Ngôi chùa tồn tại đã hơn 400 năm, mặc kệ gió mưa, biến động của cuộc sống. Để vào chùa, mọi người phải đi tắt ngang qua ruộng lúa của dân, rất vất vả. Năm 1965, sư cả trụ trù chùa lúc ấy (Hòa thượng Khunh Sa Ríth) vận động phật tử hiến đất ruộng để nhà chùa làm đường đi. Khi con đường hoàn thành, hòa thượng cho trồng rất nhiều cây còng để tạo cảnh quan đẹp.

“Trước khi viên tịch, sư thầy căn dặn: đừng đụng tới hàng còng, cứ để chúng phát triển tự nhiên. Thực hiện ý nguyện ấy, đồng thời gìn giữ kỷ niệm của sư thầy, từ khi tiếp quản ngôi chùa đến nay, tôi vừa giữ lại hàng còng cũ, vừa trồng mới thêm nhiều cây khác. Nhưng có lẽ vì thời tiết, điều kiện thực tế, cây không phát triển được. Có người tìm đến, hỏi mua cây còng, nói chúng có giá trị kinh tế cao. Và dĩ nhiên, nhà chùa từ chối” - sãi cả Chau Vanh kể.

Khoảng 60-70 cây còng đã và đang tồn tại trong ngôi chùa nhỏ (17.000m2). Thời gian trôi qua, cộng với chiến tranh, một số cây chỉ còn hình dạng bên ngoài, chứ bên trong dần mục rỗng. Những cây khỏe thì cứ vươn mình, chẳng cần công người chăm sóc, cứ tỏa bóng mát như muốn ôm trọn mảnh đất thân thương vào lòng.

Mỗi cây mang hình thù khác nhau. Có cây oai hùng, đứng thẳng giữa trời cao. Có cây nghiêng mình trúc trắc, mềm mại. Nhưng tất cả đều đan cành lá vào nhau, gắn kết thành một khối đẹp mắt, trở thành thành phần không thể thiếu của ngôi chùa.

Như bao ngôi chùa Khmer khác, chùa hàng còng là nơi sinh hoạt văn hóa, cộng đồng của người dân địa phương. Đám trẻ con thích thú chạy nhảy, nô đùa dưới bóng mát của hàng cây. Người lớn thì lo cúng kiếng, lễ Phật vào những ngày lễ, Tết Chol Chnam Thmay.

Những ai đã khuất, được gia đình xin gửi cốt vào tháp trong chùa. Dòng họ nào có điều kiện, sẽ tự xây tháp riêng. Ai khó khăn, vẫn được hỗ trợ để cốt vào tháp lớn của sư cả xây dựng sẵn. Có thời gian, chùa là nơi dạy học lớp sơ cấp Bali, dạy chữ Khmer cho các tăng, sư sãi. Nhịp sống, nhịp sinh hoạt của ngôi chùa cứ bình yên trôi qua như thế. Chùa hàng còng trở thành điểm nhấn của quê nhà, khiến người đi xa cứ nao nao nhớ về…

Cảnh đẹp của hàng còng còn thu hút đông đảo thanh niên, khách du lịch tìm đến chụp ảnh, tham quan. Chưa kể, cứ vài ngày lại có cặp đôi đến chụp ảnh cưới. Rồi đài truyền hình đến quay phim ca nhạc, phim tư liệu, nhiếp ảnh gia khắp nơi trong cả nước đến chụp ảnh thường xuyên.

Có lần, nhà chùa đón tiếp vị khách ngoại quốc sang thăm Việt Nam. Người khách ấy tình cờ nhìn thấy bức ảnh ấn tượng về hàng còng do người bạn chụp. Người bạn lại không thể nhớ chùa thuộc tỉnh nào, do đi quá nhiều nơi, chỉ nhớ là tỉnh ở miền Tây. Sau nhiều ngày nhờ người tìm hiểu, hỏi thăm giúp, vị khách có được địa chỉ của chùa, nên tìm đến tận nơi tham quan, chụp ảnh. Những câu chuyện tương tự chứng tỏ nét đẹp của chùa đã lan tỏa, được mọi người yêu thích.

Chia tay vị sư khi mưa nhẹ hạt, chúng tôi dạo quanh ngôi chùa. Tuy cũ kỹ, nhưng chùa vẫn giữ được nét kiến trúc tinh xảo của người xưa để lại, trong từng hoa văn trên tháp, trên chánh điện, trên mái nhà. Chùa chưa được tu bổ nhiều - trừ chánh điện đang trong giai đoạn hoàn thành - do nhiều nguyên nhân, trong đó có 13 năm (từ 1897 đến 1999), không ai trụ trì.

Một thời gian nữa, sau khi cảnh trí được tu bổ, xây dựng, chỉnh trang xong, chắc chắn ngôi chùa sẽ tươi mới, bắt mắt và phát triển hơn - như mong muốn của vị sư trụ trì chùa. Và tôi tin, chính mình sẽ nhiều lần quay trở lại nơi này, để tìm chút bình yên trong cuộc sống, được dạo bước giữa hàng còng rợp mát, bỏ mặc ưu phiền…
Theo: Báo An Giang
Ảnh: Internet
Xem thêm

Làng giữa phố Ban Mê

Nếp làng giữ nguyên từ mái nhà dài “tứ đại đồng đường” đến chiêng, ché, trống, nồi đồng và cả cái ghế dài kpan hiện hữu trong từng gia đình mang hồn dân tộc Ê Đê tồn tại giữa phố xá thênh thang của thủ phủ cà phê Buôn Mê Thuột. Đó là một buôn làng hiếm hoi của Tây Nguyên tồn tại song hành với thị tứ trong tiến trình đô thị hóa, tạo nét độc đáo để phát triển du lịch.

Đi hết con đường Trần Nhật Duật của phố thị Ban Mê (thành phố Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk), buôn Ako Dhông hiện ra ngỡ ngàng, khác xa với kiến trúc bê tông cốt thép. Những ngôi nhà dài nằm dọc hai bên đường, có căn được cất mới nhưng vẫn giữ nguyên nét cổ xưa truyền thống. Ngôi nhà có hình dáng như một chiếc thuyền, có mái lợp chạy theo chiều dài của ngôi nhà. Nhà càng dài chứng tỏ gia đình càng sung túc, đông con, nhiều cháu cùng sống chung.

Ban đầu, nhà chỉ có gian trước làm phòng khách, phía sau là chỗ ngủ của đôi vợ chồng và bếp núc. Con gái lớn lên, nhà lại nối thêm một gian, trổ thêm cánh cửa sổ để cưới chồng. Cứ thế, các gian nhà được nối tiếp nhau từ ngôi nhà chính. Gia đình có nhiều con gái, nhà càng dài. Có khi dài hơn cả tiếng chiêng ngân.
Nhà dài của người Ê Đê ở buôn Ako Dhông. Ảnh: THỤY DU

Đặc biệt là cầu thang được đẽo gọt thành nhiều bậc từ một cây to trong rừng. Đầu cầu thang được khắc họa đôi nhũ hoa, được gọi là thang cái. Một thang còn lại là thang đực, nhỏ hơn được khắc họa hình voi, kỳ đà… Việc sử dụng cầu thang trong mỗi ngôi nhà đều có quy ước truyền đời riêng. Nhưng ngày nay, nhiều nhà đã bỏ qua tập tục này trong sinh hoạt hằng ngày, trừ những dịp quan trọng.

Ako Dhông là ngôi làng đẹp, đầy thú vị đối với du khách. Vì người ta không cần phải đi xa mà vẫn tìm được bản làng đậm chất dân tộc Ê Đê. Có những gia đình khá giả, có nhiều tiền để cất những ngôi biệt thự xa hoa. Nhưng ngôi nhà dài vẫn chiếm vị trí trang trọng trong khu đất của gia đình như một chốn thiêng liêng. Còn ngôi biệt thự có đắt giá mấy vẫn nằm khiêm nhường ở một góc đất. Cả làng làm du lịch nên một số nhà được khai thác làm điểm tham quan, bán hàng lưu niệm, quán cà phê, dịch vụ lưu trú… ở gian trước của ngôi nhà. Gia chủ và bếp núc nằm ở phía sau.

Nhưng dù được làm du lịch hay để ở, các ngôi nhà dài vẫn có đầy đủ gian công năng, bày trí đồ đạc như truyền thống. Cồng chiêng, ché rượu cần, nông cụ… luôn đầy đủ để du khách khám phá hết nét truyền thống của dân tộc.

Trong những ngôi nhà khá giả được gìn giữ lâu đời hiện vẫn còn kpan dài hơn chục mét. Đó là chiếc ghế dài được cắt từ một thanh gỗ cổ thụ, đặt trang trọng theo chiều dài nhà. Tất cả những chiếc ghế này đều có từ lâu đời, của cha ông truyền lại trong mỗi gia đình người Ê Đê.
Lễ cầu mưa của buôn làng mà dân tộc Ê Đê vẫn gìn giữ trong đời sống hiện đại. Ảnh: THỤY DU

Làng giữa phố hiện vẫn còn rừng sát cạnh, được các thế hệ gìn giữ như một trách nhiệm với tiền nhân và hậu thế. Vị trí của nó rất đặc biệt: Nơi đầu nguồn của các con sông, con suối lớn thuộc quyền cai trị của tù trưởng Ama Thuột ngày xưa.

Trong tiếng Ê Đê, Ako Dhông là buôn đầu nguồn. Người Kinh gọi là Cô Thôn. Trong buôn, có bến nước là nơi người dân tắm giặt và mang nước về nhà, hiện là điểm tham quan của buôn.

Dù phát triển ít nhiều ảnh hưởng của đời sống hiện đại nhưng người Ê Đê bản địa vẫn còn giữ các lễ nghi truyền thống, như lễ cúng bến nước, lễ cầu mưa, lễ kết nghĩa anh em, lễ hội cồng chiêng…

Nếu lấy làng Ako Dhông làm trung tâm, trong vòng bán kính 20-40km là những điểm đến nổi tiếng của thủ phủ cà phê Ban Mê, như: Buôn Đôn, mộ Vua Voi, hồ Lăk, Buôn Jun và các ngọn thác Dray Nưr, Dray Sáp, Gia Long… bên cạnh các điểm tham quan chính ở trung tâm thành phố là bảo tàng- biệt điện vua Bảo Đại, chùa sắc tứ Khải Đoan, làng cà phê Trung Nguyên…

Có thể nói, đây là ngôi làng gắn với lịch sử phát triển từ bộ tộc của tù trưởng Ama Thuột hùng mạnh thành thành phố Buôn Mê Thuột sung túc. Ở đó, đời sống thay đổi nhiều nhưng vẫn tồn tại những giá trị truyền thống của một dân tộc như một di sản.

Ngôi làng truyền thống giữa phố phường đô hội là kết tinh từ sự gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, tạo thành điểm đến du lịch không đơn thuần là tham quan mà còn để nghiên cứu, học tập. Ako Dhông như một viên ngọc quý của cao nguyên bazan.
Theo Báo Cần Thơ
Xem thêm

10 điểm đến yêu thích của giới nhiếp ảnh trên thế giới

Sở hữu vẻ đẹp độc đáo về phong cảnh thiên nhiên, văn hóa, con người…, các địa danh như: núi Alpes ở Thụy Sĩ, vịnh Milford Sound ở New Zealand, hay Vườn Quốc gia Serengeti,… là những điểm đến yêu thích của giới nhiếp ảnh trên thế giới.
>> 25 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới năm 2017
>> Bãi biển thu hút du khách nhờ bầy chim hồng hạc thân thiện
>> Trải nghiệm của du khách Việt ở 'thiên đường' lặn mê hoặc cả thế giới

1- Núi Alpes Thụy Sĩ:
Với không khí tươi mát và phong cảnh núi non thay đổi đáng kể từ mùa hè đến mùa đông, dãy núi Alpes của Thụy Sĩ là nơi có phong cảnh đẹp nhất mà bạn có thể tưởng tượng được. Không có gì đẹp hơn cảnh một căn nhà gỗ ấm cúng nằm trên sườn đồi xanh mướt. (Ảnh: Rough Guides)

Xem thêm

25 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới năm 2017

Danh sách 25 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới đáng để du khách đến thăm trong năm 2017, theo đánh giá của trang web du lịch nổi tiếng thế giới TripAdvisor.

1. Đảo Bali, Indonesia
Đảo Bali, Indonesia

Xem thêm

Coco Beachcamp có phù hợp với tất cả mọi người?

Cách TP. HCM chỉ 3-4 tiếng đi bus, bạn đã tới được một nơi tuyệt đẹp cùng với những chiếc lều xinh xắn toạ lạc ngay sát bãi biển. Coco beachcamp mới mở chưa lâu nhưng đã thu hút rất nhiều bạn trẻ và các gia đình tới chơi tiếp thêm vitamin SEA sau một tuần làm việc căng thẳng. Nhưng liệu Coco Beachcamp có phù hợp với tất cả mọi người? 


Nơi cắm trại hay khu nghỉ dưỡng?

Bạn sẽ phải chấp nhận là ngủ trong lều trại rất nóng vào ban ngày, lều dính cát, hay thậm chí gặp trục trặc khi trời mưa. Phuotvivu đã đi nhiều khu cắm trại ở Đông Nam Á, so với các nơi khác Coco beachcamp được trang bị rất tốt với gối, mền và lều mới, toilet và phòng tắm đều sạch sẽ, còn có nhiều chiếc ghế, giường kiểu xích đu… để bạn nghỉ ngơi thư giãn.

Kiểu cắm trại này phù hợp với các bạn trẻ ưa thích hoà mình với thiên nhiên, cảm nhận hơi nóng mặn mà của biển, những đêm trời đầy sao nằm trên những chiếc xích đu của Coco beach tám chuyện với bạn bè chứ không phải là kỳ nghỉ dưỡng 4 sao, 5 sao. Khi đến đây, các bạn nên sẵn sàng đối mặt với muỗi và các côn trùng từ thiên nhiên với thuốc xịt chống côn trùng và thuốc bôi côn trùng. Là khu cắm trại nên nơi đây không có sẵn khăn, bót đánh răng hay xà phòng tắm các loại, bạn nên chuẩn bị trước hoặc có thể mua những sản phẩm tiện lợi ở quầy bar.

Nên tránh đi cuối tuần vì số lượng người đến Coco Beachcamp rất đông.

Để tận hưởng Coco beach camp được trọn vẹn nhất bạn nên đến vào ngày trong tuần vì lượng khách đông dễ khiến dịch vụ của Coco beach chậm lại, lều bạt cũng khó giữ sạch sẽ, những chỗ vui chơi thường full, các bạn cũng nên đặt chỗ bằng cách gửi mail thay vì gọi điện và inbox facebook vì gọi điện ít nói được hết thông tin bạn cần.

Khi tới đây thấy nhân viên Coco beachcamp phải nghe điện thoại liên tục, chắc chắn nhiều bạn sẽ không gọi được vì điện thoại luôn trong tình trạng bận đó là còn chưa nói đến những sai sót dễ gặp phải khi gọi điện.

Là một người tôn trọng môi trường khi đến với Coco beachcamp

Đây là nơi được đánh giá rất cao tinh thần bảo vệ môi trường, bất kỳ nơi nào bạn cũng đều thấy những biển báo không xả rác, bờ biển cát trắng rất sạch sẽ. Khá nhiều người du lịch Việt Nam than phiền bãi biển Việt Nam rất dơ và đầy rác.

Rất mong các bạn hiểu bãi biển đẹp hay không là nhờ các bạn, 1 người xả rác 1 người dọn thì không sao, nhưng hàng chục, hàng trăm người xả rác thì việc có những bãi biển đẹp như Phillippines mà các bạn hay thấy là điều gần như không thể. Để chung tay gìn giữ sắc đẹp Việt Nam, không chỉ riêng Coco Beachcamp, các bạn hãy bỏ rác đúng nơi, sử dụng các vật dụng cũng như đồ dùng ở các bãi biển đúng quy định nhé.

Về miền quê mộc mạc với Coco homestay.

Nếu bạn muốn có không gian riêng với người yêu hay gia đình, hãy đến với Coco homestay cách Coco beach camp 5km, những villa và bungalow xinh xắn được bao bọc bởi đầm sen và những cây cầu đậm chất miền quê.

Cũng như Coco beachcamp, thư viện ở Coco homestay được thiết kế rất đẹp mắt, khiến du khách mê mẩn khi mới bước chân vào. Khi ở Coco homestay bạn sẽ được tham quan Coco beachcamp hoàn toàn miễn phí. Đường đến Coco homestay rất dễ, chỉ cần dùng google map là bạn đi tới được ngay.

Thời gian đẹp nhất để đến Coco beachcamp

Từ tháng 1 đến 5, Bình Thuận bước vào mùa khô, biển trở nên trong xanh ít sóng dữ, không có mưa là thời điểm thuận lợi để đi biển và đặc biệt là ngủ trong lều. Tuy nhiên tháng 9 tới tháng 12 không phải lúc nào cũng có mưa, bạn nên kiểm tra thời tiết để có một chuyến đi hoàn hảo nhất.

GOVIVU
Xem thêm

Du lịch đảo Yến ngắm san hô bằng tàu đáy kính

Tour du lịch đảo Yến (Khánh Hòa) hấp dẫn du khách với chương trình ngắm san hô bằng tàu đáy kính, lên đỉnh Du Hạ, thăm đền thờ tổ nghề yến và vào hang xem tổ yến. Đặc biệt vào mùa hè, đảo Yến thu hút rất nhiều khách quốc tế và trong nước đến chiêm ngưỡng.


Những chiếc tàu đưa du khách từ bến cảng Vinpearl ra thăm đảo Yến.
Xem thêm

Lý Hòa non xanh biển biếc

Trên Quốc lộ 1, từ Bắc vào Nam, qua khỏi cầu sông Gianh, phía bên phải có dãy núi Lệ Đệ không cao lắm nhưng "chập chùng hình tựa hổ ngồi" (Ô Châu cận lục). Dãy Lệ Đệ (còn gọi là Đệ Thê) tuy núi không cao nhưng nhiều ngọn gài nhau lô xô chạy ra biển. Những tảng núi đá cuối cùng dừng lại bên chân sóng trong vịnh Hà Não (nay gọi là Đá Nhảy).


Đèo Lý Hòa quanh quanh uốn khúc (ngày xưa gọi là đèo Lệ Đệ).

Xưa kia, con đường thiên lý Bắc - Nam chạy dọc bờ biển, ngày nay Quốc lộ 1 thênh thang vượt đèo rồi đổ xuống cầu Lý Hòa bắc qua sông Thuận Cô (nay gọi là sông Lý Hòa). Lý Hòa - non xanh biển biếc bao gồm hai xã Thanh Trạch và Hải Trạch được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận Danh thắng quốc gia theo Quyết định số 3959VH/QĐ ngày 2-12-1992.



Dãy núi Núi Lệ Đệ ở khu danh thắng là một di tích lịch sử gắn với nhiều truyền thuyết. Chuyện kể rằng, xưa kia khi đánh chiếm được Nam Chiếu, được vua Đường cử làm Tiết độ sứ quận Giao Châu (nước Việt xưa) Cao Biền đã cưỡi diều bay đến nhiều nơi để yểm bùa những vùng đất có sinh khí.

Vừa yểm bùa, Cao Biền vừa thu vét vàng bạc, sản vật quý ở các địa phương gửi về thượng quốc. Vì vậy, diều Cao Biền đi đến đâu nhân dân trong vùng căm ghét thường đuổi đánh.



Lần đó, bay từ Bắc vào Nam, Cao Biền đã thu được nhiều vàng bạc châu báu. Qua dãy Hoành Sơn, địa đầu vùng đất Nhật Nam, vàng bạc, châu báu thu vén đã nặng, Cao Biền muốn hạ cánh cất giấu số vàng bạc đã cướp được nhưng núi non hiểm trở lại bị dân các làng bắn tên nỏ tới tấp làm cho y không thể nào đáp xuống được. Vượt qua dòng Linh Giang, ở phía hạ nguồn, Cao Biền thấy trước mắt là một vùng núi điệp trùng, tuy không cao và hiểm trở nhưng nhiều suối khe rừng rậm có thể cất giấu được số vàng bạc châu báu.


Phố biển Lý Hòa.

Đó là vùng núi Lệ Đệ với những dãy núi giăng dày thành dãy lan ra tận biển. Cánh diều Cao Biền hạ xuống cất giấu số của cải cướp được vào trong dãy núi hiểm trở.

Theo truyền thuyết dân gian kể lại, Cao Biền đựng vàng bạc, châu báu trong những cái hũ bằng sứ, rồi phù phép đẩy sâu vào lòng núi lấy đá lấp kín lại.

Lại có truyền thuyết kể rằng, xưa kia, nơi đây rừng núi rậm rạp, cây cối nhiều tầng nhiều lớp. Trong rừng có nhiều muông thú, nhiều khe suối uốn lượn lọc qua những cồn cát trong vắt rồi hòa vào biển cả. Trong cảnh sơn thủy hữu tình, hàng năm các nàng tiên trên trời thường xuống đây quần tụ. Tháng 2 năm Kỷ Dậu (1069) vua Lý Thánh Tông dẫn quân chinh chiến phương Nam đến vịnh Hà Não trời quang, mây tạnh bỗng có đám mây lành bao phủ thuyền ngự.


Đình Lý Hòa ngày nay, nơi thờ các vị thành hoàng của làng.

Nhìn lên đỉnh Lệ Đệ, thấy có nhiều tiên nữ từ thượng giới bay về cõi trần hướng ra biển Đông, vui đùa múa hát. Biết có điềm lành, vua vội lập đàn khấn vái. Sau khi đại thắng trở về nhớ lại chuyện cũ bèn cho lập chùa Hang dưới chân núi Đệ Thê để nhớ ngày Ma Cô tiên giáng, Thuyền ngự quần tụ mây lành (Theo Dự Địa chí ước biên của Cao Xuân Dục).

Chùa Hang nằm trong động núi có tên là động cửa Cửa Chùa. Tương truyền trong chùa có một bức tượng Phật Quan Âm bằng vàng do vua Lý Thánh Tông cung tiến. Trước Cách mạng 1945 Chùa Hang được giao cho xã Bồ Khê (Thanh Trạch) chăm lo việc cúng tế. Sau này do bom đạn chiến tranh Chùa Hang trở thành phế tích và ngày nay chỉ còn lại trong truyền thuyết.


Cầu Lý Hòa.

Trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh nơi đây còn lưu truyền một câu chuyện tình bi ai của nàng công chúa Ngọc Hoa và một viên tướng chúa Nguyễn. Viên tướng được chúa Nguyễn phái đi sứ ở kinh thành Thăng Long, chẳng may bị chúa Trịnh bắt giữ, mãi không thấy trở lại. Ngọc Hoa lo lắng thấp thỏm chờ đợi người thương yêu đến mỏi mòn. Nàng khăn gói lên đường, ra tận bờ sông Gianh tìm kiếm.


Chờ đợi, ngóng trông, hy vọng Ngọc Hoa xin vào một ngôi chùa quy y cửa Phật. Mặc dù đã rũ áo phong trần, nương nhờ Phật pháp, nhưng vẫn thương nhớ người yêu, mong được tái ngộ. Ngày ngày, công chúa Ngọc Hoa lên sườn núi Đá Mài trong dãy Lệ Đệ ngóng về phương Bắc gửi theo gió nỗi lòng cô đơn, buồn tủi. Nước mắt nàng chảy thành Suối Ngọc dưới chân núi Đá Mài không bao giờ cạn như mối tình chung thủy sắt son sống mãi cùng năm tháng.

Không chỉ là truyền thuyết, vùng đất Lý Hòa còn là "dư khí của núi Lệ Đệ rủ xuống thành một bãi cát bằng, nổi cao mở rộng, dân cư ở ngang bãi trông về hướng Nam, duôi bãi từ bên tả ôm lấy, sông Thuận Cô từ bên hữu chảy lại làm tiền đường, một dải cồn cát Thuận Cô làm án cho nên nhân dân thịnh vượng đến hơn nghìn người" (Phủ biên tạp lục). Lịch sử hơn 300 năm khai canh lập làng của người dân Lý Hòa luôn gắn liền với nghề đánh cá biển và buôn bán.

Theo Lê Quý Đôn , dân Lý Hòa thời các chúa Nguyễn đã có "tục quen mua bán, bình thời vào Gia Định đóng thuyền nan lớn đến trăm chiếc, mỗi chiếc đến hơn nghìn quan, đem về bán lại". Không chỉ có vậy, Lý Hòa là làng văn hiến nhiều người đỗ đạt, làm quan.

Đặc biệt có gia đình ông cha, con cháu đều đỗ đại khoa. Tiến sĩ Nguyễn Duy Cần (sau đổi tên là Huân) trúng cử nhân khoa Tân Sửu (1841), Ân khoa năm Nhâm Dần (1842) được sắc ban Tiến sĩ, phong hàm Thị giảng học sĩ, giữ chức Giáo tập học đường phủ Tôn Nhân là thân phụ của cử nhân Nguyễn Duy Miễn. Phó bảng Nguyễn Duy Thắng, cháu nội Tiến sĩ Nguyễn Duy Cần, con trai Cử nhân Nguyễn Duy Miễn trúng cử khoa Mậu Tuất (1898) giữ chức Chưởng ấn ở kinh kỳ.


Đá nhảy ở Lý Hòa.

Tiến sĩ Nguyễn Duy Tích, em trai Nguyễn Duy Thắng trúng Cử nhân khoa Canh Tý (1900), khoa Tân Sửu (1901) sắc ban Tiến sĩ, giữ chức Tham tri bộ Binh. Tiến sĩ Nguyễn Duy Phiên, em trai Nguyễn Duy Thắng, Nguyễn Duy Tích trúng Cử nhân khoa Quý Mão (1903), khoa Đinh Mùi (1907) sắc ban Tiến sĩ giữ chức Tá lý bộ Học. Phó bảng Nguyễn Duy Thiệu em trai Nguyễn Duy Thắng, Nguyễn Duy Tích, Nguyễn Duy Phiên, trúng cử khoa Canh Tuất (1910) được phong hàm Thừa chỉ.



Đến với Lý Hòa hôm nay không chỉ đến với một Danh thắng Quốc gia - non xanh biển biếc mà còn đến với một vùng đất năng động, ngày một phát triển trong quá trình đổi mới vì quê hương giàu đẹp.

Theo Phan Viết Dũng (Báo Quảng Bình)
Xem thêm

Hoang sơ biển cồn Bửng

Nằm cách thành phố Bến Tre khoảng 70km, cồn Bửng thuộc xã Thạnh Hải (do vậy còn được gọi là biển Thạnh Hải), huyện Thạnh Phú. Gần đây, trong những ngày nghỉ cuối tuần hoặc lễ Tết, cồn Bửng thu hút khá đông du khách từ TP Hồ Chí Minh đổ về, từ miền Tây đổ lên. Với vẻ hoang sơ, yên tĩnh của khung cảnh thiên nhiên cộng thêm sự chan hòa, mến khách của người dân bản địa, cồn Bửng mang đến cho du khách cảm giác thoải mái, yên lành.



Miền Tây có rất nhiều cồn, mỗi tên cồn gắn với đặc điểm riêng của vùng đất nơi đó. Nhiều người cho rằng tên gọi cồn Bửng xuất phát từ hình dạng của cồn giống như một bửng đất. Từ trên cao nhìn xuống, sông cồn Bửng như vết cắt, cắt một khoảnh đất ra khỏi đất liền. Phía đông nam của cồn Bửng giáp với biển Đông.
Xem thêm

Đi tìm cực Bắc thật sự - Chinh phục cực bắc

Nhiều người vẫn nghĩ rằng điểm cực bắc của Việt Nam là cột cờ Lũng Cú ở Hà Giang, vậy nhưng biên giới của chúng ta còn xa hơn nhiều. Theo tài liệu của biên phòng Việt Nam, vị trí này nằm ở trung tuyến dòng sông Nho Quế. Đến nay, chỉ có vài khách du lịch chạm tay vào vị trí thiêng liêng trên. 


< Theo bản đồ vệ tinh: khoảng cách giữa điểm cực Bắc thật sự và cột cờ Lũng Cú là 3,3km còn cách mốc 428 tầm 2,2km theo đường chim bay.
Xem thêm

Truyền thuyết về Đèo Mụ Giạ

Đèo Mụ Giạ là một di tích lịch sử nằm trên Đường 12A, gần cửa khẩu Cha Lo, là địa giới tự nhiên của hai nước Việt Nam và Lào. Nơi đây có núi cao, rừng rậm nhiều khe suối. 

Đèo Mụ Giạ ở Biên giới Việt - Lào
Cách đây hơn một trăm năm từng in dấu chân của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết trong phong trào Cần Vương đầu thế kỷ XX. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đèo Mụ Giạ nói riêng và cả tuyến đường 12A nói chung là một tọa độ lửa, nơi ghi dấu nhiều chiến công hiển hách của quân dân ta đánh bại mọi cuộc tấn công hủy diệt của máy bay Mỹ bảo đảm cho tuyến đường thông suốt chi viện cho tiền tuyến. Đèo Mụ Giạ là con đèo thủy chung của tình đoàn kết chiến đấu hai dân tộc Việt- Lào trong hai cuộc kháng chiến và ngày nay là con đèo gắn kết tình hình nghị và cùng nhau phát triển của hai tỉnh Quảng Bình và Khăm Muộn.

Thuở xa xưa, nước ta thời các vua Hùng, tiếp giáp với nước Tiết Hầu ở phương Nam. Hai nước Văn Lang và Tiết hầu cùng chung biên giới, núi liền núi, sông liền sông. Vì thế nhiều lúc không phân biệt đâu là ranh giới.

Trong dân gian đã có nhiều ý kiến đưa ra phải làm sao để phân chia ranh giới rạch ròi của mỗi nước. Hai ông vua của hai nước vốn tính hiền hòa, không muốn chiến tranh xảy ra bằng đao binh để phân chia biên giới bèn nghĩ cách để giải quyết bằng hòa bình. Mỗi bên cử một người ra đi từ nước mình sang nước bên kia cùng một thời gian, cùng một giờ, cùng một ngày nếu ai đến trước gặp nhau ở đâu thì lấy đó làm ranh giới biên cương của mỗi nước.

Nhà vua cử sứ giả ra đi tìm khắp cả nước tìm người tài giỏi để đảm nhận trọng trách này. Sứ giả đã đi khắp nơi hết vùng này sang vùng khác mà vẫn chưa tìm được người. Mặc dù đã sắp đến ngày thi tài nhưng vẫn chưa tìm được ai vừa ý. Lúc ấy ở một làng quê hẻo lánh, tận miền Tây của tỉnh Quảng Bình có một bà già khỏe mạnh, bà chỉ sống có một mình. Vì ở vùng hẻo lánh, sống lẻ loi đơn độc nên sứ giả tìm mãi đến gần ngày cuối cùng mới tìm được. Khi nghe sứ giả nói tin này, bà già rất mừng, bà đã sốt sắng nhận lời. Thấy bà người cao to khỏe mạnh khác thường, sứ giả khấp khởi mừng thầm vội vả đưa bà về yết kiến nhà vua.Vua rất đổi vui mừng, cử bà tham gia vào cuộc thi đi bộ vào sáng hôm sau. Suốt đêm ấy, bộ phận nhà bếp đã chuẩn bị cho bà cơm nước để bà ăn. Bà tên là Giạ đã ăn hết mấy nong cơm lớn để tờ mờ sáng hôm sau bước vào cuộc thi đấu.

Rạng canh năm, khi gà vừa báo canh thứ nhất, mụ Giạ đã chuẩn bị khởi hành. Bà đi nhanh như chim bay, mỗi bước của bà đi vượt qua hai ba quả núi cao, năm sáu ngọn đồi lớn. Chưa đầy nửa buổi, bà đã đi mấy trăm dặm đường. Đến quá trưa, chân bà đã đặt chân tới dãy Khai Trướng (núi Giăng Màn) ở Quảng Bình giáp ranh giữa hai nước Việt (Việt Nam) và Tiết Hầu (Lào).Và cuối cùng bà đã gặp người của nước bên kia nam con đèo. Từ đó, ngọn đèo trở thành biên giới tây nam của nước ta, ngọn đèo đó thuộc dãy núi Giăng Màn- địa giới thiên nhiên của hai nước Việt- Lào ngày nay. Đó là con đèo tình nghĩa, là vùng rừng phân thủy, xuôi dòng theo con nước chảy. Bên này đi về Khe Ve, La Trọng (Việt Nam), bên kia đi về Ba Na Phầu, Lằng Khằng, bản Đủ, bản Tươn của đất nước Triệu voi.
Để ghi nhớ công lao của bà mở mang bờ cõi, người ta lấy tên của bà đặt tên cho con đèo ấy là Đèo Mụ Giạ.
Người sưu tầm: Trần Thị Thị Hồng 
Theo lời kể của ông Hồ Bôn, bản Y Leng, xã Dân Hóa, Minh Hóa 


Đèo Mụ Giạ (có nơi ghi là đèo Mụ Già) ở Quảng Bình là một đèo trên quốc lộ 12A giáp biên giới Việt Nam-Lào. Đèo thuộc địa phận 3 xã Hóa Thanh, Trọng Hóa và Dân Hóa huyện Minh Hóa, cao khoảng 480 mét, dài khoảng 20 km từ ngã ba Khe Ve (xã Hóa Thanh) đến gần cửa khẩu Cha Lo (xã Dân Hóa).

Thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân có kế hoạch đào một hệ thống hầm đường bộ xuyên qua núi dưới đèo Mụ Giạ phục vụ cho tuyến đường sắt từ Tân Ấp tới Thakhek. Sau do vấn đề ngân sách và kỹ thuật, hầm đường bộ dù đã bắt đầu được thi công nhưng buộc phải bỏ dở. Thay vào đó, chính quyền thực dân cho dựng tuyến cáp treo dài 40 km (cách gọi cũ là "không trung thiết lộ") chạy từ Xóm Cục tới Naphao (Lào). Bằng tuyến đường sắt Tân Ấp-Xóm Cục và tuyến cáp treo Xóm Cục-Naphao, hàng hóa từ Việt Nam được vận chuyển sang Lào và thiếc khai thác ở Thakhek được vận chuyển ra các cảng miền Trung. Trong chiến tranh Đông Dương, tuyến cáp treo này đã bị phá hủy. Dulichgo

Trong chiến tranh Việt Nam, công binh Việt Nam đã được huy động để tạo ra lối đi trên đỉnh đèo vượt từ Đông Trường Sơn sang Tây Trường Sơn, xây dựng hệ thống đường ống xăng dầu ở khu vực đèo Mụ Giạ để cấp nhiên liệu cho các phương tiện vận tải của miền Bắc Việt Nam thâm nhập vào miền Nam. Do đó, một trong những mục tiêu đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam mà Mỹ dùng pháo đài bay B-52 tấn công là đèo Mụ Giạ.

Năm 2003, chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đề xuất xây dựng tuyến đường sắt từ Thakhek qua Mụ Giạ xuống cảng Vũng Áng. Tháng 12 năm 2007, Bộ Giao thông vận tải Việt Nam đã giao cho Cục Đường sắt Việt Nam lập báo cáo đầu tư xây dựng tuyến đường sắt qua Mụ Giạ sang Lào này. Đây là một phần trong dự án “Xa lộ song hành xuyên Đông Dương” (Đường bộ và đường sắt).

Đường bộ sẽ bắt đầu từ thủ đô Hà Nội chạy dọc theo đường bộ và đường sắt hiện hữu qua Phủ Lý Ninh Bình - Thanh Hóa - Nghệ An nối lên đường Hồ Chí Minh phía tây Hà Tĩnh tiếp đến bắc Quảng Bình tới chân đèo Mụ Giạ giáp biên giới Việt - Lào. Từ đây xuôi về ngã baNaphao, xuôi tiếp theo đường 23 về tới Mường Phìn. Từ Mường Phìn xuôi tiếp đường 23 thẳng xuống phía nam tới Xalavan.

Từ Xalavan tới Paske. Rồi từ Pakse xuôi theo quốc lộ 14 về phía nam thẳng qua biên giới Campuchia tới ngã tư Stung Treng. Từ Stung Treng tới Kratie. Từ Kratie theo đường bộ có sẵn theo biên giới Việt Nam - Campuchia về tới Lộc Ninh, Bình Phước. Từ Lộc Ninh đi thẳng theo quốc lộ về Bình Dương, qua Chơn Thành, Thủ Dầu Một về tới TP.HCM. Tổng cự ly khoảng 1.410km. Kinh phí thực hiện dự án này dự kiến khoảng 20 tỉ USD.

Theo blog Xaquangson, Wikipedia và nhiều nguồn khác
Xem thêm

Khám phá Pu Si Lung - Đỉnh núi cao thứ ba ở Việt Nam

Pu Si Lung là khối núi nằm ở tây bắc tỉnh Lai Châu, giữa Sông Đà và thượng nguồn sông Nậm Na (phụ lưu tả ngạn Sông Đà) tại biên giới Việt - Trung. Cụm núi cách Mường Tè khoảng 28 km về phía tây bắc, có diện tích khoảng 2.400 km2 với đỉnh cao 3.076 m (đứng thứ ba của Việt Nam về độ cao, sau Phansipan và Phu Ta Leng).

Pu Si Lung chụp lại ở cao độ khoảng chừng 2600m. Để chinh phục Pu Si Lung phải lên bằng một sườn khác chứ không phải có đường nối từ mốc 42 như trên google map (ảnh Quycoctu).

Theo nghiên cứu của nhiều bạn, thực chất thì đỉnh Pu Si Lung thực sự mới là đỉnh núi cao nhất Việt Nam với độ cao 3.775m chứ không phải 3.143m của ngọn Phan Xi Păng. Tiếc rằng toàn bộ khu vực có đỉnh núi cao 3.775m này hiện đang nằm bên phần đất mà Trung Quốc gọi là của họ sau chiến tranh 1979. Phần sát Sông Đà thuộc huyện Mường Tè - Lai Châu chỉ còn lại đỉnh cao thứ nhì là 3.076m.
---------

Chinh phục Pu Si Lung - nóc nhà vùng biên giới
(VNE) - Là ngọn núi hoang sơ, bí ẩn và quyến rũ bậc nhất Việt Nam, đỉnh Pu Si Lung huyền thoại thuộc địa phận tỉnh Lai Châu luôn là điểm đến trong mơ của các phượt thủ ưa khám phá.


Vùng Tây Bắc là nơi có hàng vạn núi cao sừng sững bao đời như bức tường thành che chở cho nước Việt Nam. Trên biên giới Việt - Trung, đỉnh Pu Si Lung nằm ở độ cao hơn 3.000 m là ngọn núi cao nhất án ngữ nơi biên cương Tổ quốc. Đoàn chúng tôi thực hiện hành trình chinh phục điểm cao nhiều ý nghĩa này giữa những ngày miền Bắc đang chìm trong giá lạnh...


Lên lịch trình kỹ càng và liên hệ trước với các cơ quan chức năng, chúng tôi mang giấy công tác tới trình báo tại Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Lai Châu, rồi lại cầm giấy giới thiệu vượt đường đèo núi tới đồn biên phòng Pa Vệ Sủ, vùng sâu nhất của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.


Hành trình đường trường gian nan là vậy nhưng chúng tôi được khích lệ tinh thần rất nhiều khi nhận sự tiếp đón và giúp đỡ từ đồn biên phòng cùng người dân nơi đây. Chúng tôi tới bản Sín Chải A, gặp gỡ trưởng bản và dự bữa cơm Tết thân mật của người La Hủ.


Rời bản Sín Chải A, chúng tôi vào bìa rừng và để xe lại đây, bắt đầu hành trình leo núi gian nan. Mùa này, những cây lau rậm rạp nở bông trắng muốt, trập trùng trong nắng gió khiến đoàn lữ khách ngẩn ngơ.


Hành trình dọc theo những con suối lớn với nhiều ghềnh đá dữ cùng các cây cầu đơn sơ làm từ thân cây bị gãy từ mùa lũ khiến chúng tôi phải tháo giầy để lội qua. Những ghềnh đá lô nhô, trơn trượt, giá lạnh làm bàn chân ai cũng tê cóng và phải rất cẩn thận nếu không muốn bị ướt.


Đêm giữa thung lũng, bốn bề là núi rừng hoang dã, bên bếp lửa bập bùng, tiếng suối róc rách còn ánh sáng bàng bạc của trăng sao trên đỉnh đầu.


Khung cảnh núi rừng tuyệt đẹp, không khí trong lành với những đám mây sương lảng bảng thật kỳ ảo. Đôi khi, chúng tôi ngỡ mình lạc bước lúc vào những khu đồi hoa dại trắng muốt từ thân tới bông. Bước chân lại dẫm lên những thảm lá khô hay bông hoa nhỏ xinh và ngước mắt lên là một bầu trời đỏ rực màu hoa hồng quang.


Đường thật dài, hết lên lại xuống nhưng leo mãi rồi cũng tới đích. Chúng tôi reo lên sung sướng khi thấy cột mốc đứng đó, sừng sững trên nền bê tông được gia cố chắc chắn. Các anh biên phòng kiểm tra tình trạng mốc giới, thực hiện nghi lễ thiêng là chào mốc giới và cùng chúng tôi chụp hình lưu niệm. Máy GPS của tôi xác nhận cao độ 2.866 m. Đây là một trong những cột mốc biên giới cao nhất trên lãnh thổ Việt Nam.


Trời chuyển tối, không khí lạnh cùng sương mù nhiều khiến chúng tôi biết mình phải nhanh chóng khởi hành về lán nghỉ cho dù phải đi trong bóng đêm. Đoàn chúng tôi bao gồm những đôi chân có kinh nghiệm, tôi luyện qua không ít những ngọn núi cao nhưng quả thực hành trình lần này là một thử thách gian nan, đáng nhớ và nhiều ý nghĩa.


Từ đây lên đỉnh Pu Si Lung còn cả một hành trình dài. Đi trên hành lang biên giới nên phải rất cẩn thận bám nhau theo các anh biên phòng để không lạc sang nước bạn Trung Quốc. Qua rừng trúc rồi tới khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật đa dạng, ẩm ướt tới nỗi mỗi thân cây đều phủ trên mình một màu xanh ma mị của rêu phong.


Cả đoàn lấy cờ Tổ quốc và chụp hình lưu niệm với niềm tự hào dâng trào khi chinh phục thành công ngọn núi được mệnh danh là nóc nhà biên giới này.

Không tự hào sao được khi trên những đỉnh cao như vậy, cha ông ta đã từng ngàn năm chiến đấu bảo vệ mảnh đất quê hương.

Theo Hachi8 (Vnexpress)
Du lịch, GO!
Xem thêm
Loading...