Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng

Khám phá Pu Si Lung - Đỉnh núi cao thứ ba ở Việt Nam

Pu Si Lung là khối núi nằm ở tây bắc tỉnh Lai Châu, giữa Sông Đà và thượng nguồn sông Nậm Na (phụ lưu tả ngạn Sông Đà) tại biên giới Việt - Trung. Cụm núi cách Mường Tè khoảng 28 km về phía tây bắc, có diện tích khoảng 2.400 km2 với đỉnh cao 3.076 m (đứng thứ ba của Việt Nam về độ cao, sau Phansipan và Phu Ta Leng).

Pu Si Lung chụp lại ở cao độ khoảng chừng 2600m. Để chinh phục Pu Si Lung phải lên bằng một sườn khác chứ không phải có đường nối từ mốc 42 như trên google map (ảnh Quycoctu).

Theo nghiên cứu của nhiều bạn, thực chất thì đỉnh Pu Si Lung thực sự mới là đỉnh núi cao nhất Việt Nam với độ cao 3.775m chứ không phải 3.143m của ngọn Phan Xi Păng. Tiếc rằng toàn bộ khu vực có đỉnh núi cao 3.775m này hiện đang nằm bên phần đất mà Trung Quốc gọi là của họ sau chiến tranh 1979. Phần sát Sông Đà thuộc huyện Mường Tè - Lai Châu chỉ còn lại đỉnh cao thứ nhì là 3.076m.
---------

Chinh phục Pu Si Lung - nóc nhà vùng biên giới
(VNE) - Là ngọn núi hoang sơ, bí ẩn và quyến rũ bậc nhất Việt Nam, đỉnh Pu Si Lung huyền thoại thuộc địa phận tỉnh Lai Châu luôn là điểm đến trong mơ của các phượt thủ ưa khám phá.


Vùng Tây Bắc là nơi có hàng vạn núi cao sừng sững bao đời như bức tường thành che chở cho nước Việt Nam. Trên biên giới Việt - Trung, đỉnh Pu Si Lung nằm ở độ cao hơn 3.000 m là ngọn núi cao nhất án ngữ nơi biên cương Tổ quốc. Đoàn chúng tôi thực hiện hành trình chinh phục điểm cao nhiều ý nghĩa này giữa những ngày miền Bắc đang chìm trong giá lạnh...


Lên lịch trình kỹ càng và liên hệ trước với các cơ quan chức năng, chúng tôi mang giấy công tác tới trình báo tại Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Lai Châu, rồi lại cầm giấy giới thiệu vượt đường đèo núi tới đồn biên phòng Pa Vệ Sủ, vùng sâu nhất của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.


Hành trình đường trường gian nan là vậy nhưng chúng tôi được khích lệ tinh thần rất nhiều khi nhận sự tiếp đón và giúp đỡ từ đồn biên phòng cùng người dân nơi đây. Chúng tôi tới bản Sín Chải A, gặp gỡ trưởng bản và dự bữa cơm Tết thân mật của người La Hủ.


Rời bản Sín Chải A, chúng tôi vào bìa rừng và để xe lại đây, bắt đầu hành trình leo núi gian nan. Mùa này, những cây lau rậm rạp nở bông trắng muốt, trập trùng trong nắng gió khiến đoàn lữ khách ngẩn ngơ.


Hành trình dọc theo những con suối lớn với nhiều ghềnh đá dữ cùng các cây cầu đơn sơ làm từ thân cây bị gãy từ mùa lũ khiến chúng tôi phải tháo giầy để lội qua. Những ghềnh đá lô nhô, trơn trượt, giá lạnh làm bàn chân ai cũng tê cóng và phải rất cẩn thận nếu không muốn bị ướt.


Đêm giữa thung lũng, bốn bề là núi rừng hoang dã, bên bếp lửa bập bùng, tiếng suối róc rách còn ánh sáng bàng bạc của trăng sao trên đỉnh đầu.


Khung cảnh núi rừng tuyệt đẹp, không khí trong lành với những đám mây sương lảng bảng thật kỳ ảo. Đôi khi, chúng tôi ngỡ mình lạc bước lúc vào những khu đồi hoa dại trắng muốt từ thân tới bông. Bước chân lại dẫm lên những thảm lá khô hay bông hoa nhỏ xinh và ngước mắt lên là một bầu trời đỏ rực màu hoa hồng quang.


Đường thật dài, hết lên lại xuống nhưng leo mãi rồi cũng tới đích. Chúng tôi reo lên sung sướng khi thấy cột mốc đứng đó, sừng sững trên nền bê tông được gia cố chắc chắn. Các anh biên phòng kiểm tra tình trạng mốc giới, thực hiện nghi lễ thiêng là chào mốc giới và cùng chúng tôi chụp hình lưu niệm. Máy GPS của tôi xác nhận cao độ 2.866 m. Đây là một trong những cột mốc biên giới cao nhất trên lãnh thổ Việt Nam.


Trời chuyển tối, không khí lạnh cùng sương mù nhiều khiến chúng tôi biết mình phải nhanh chóng khởi hành về lán nghỉ cho dù phải đi trong bóng đêm. Đoàn chúng tôi bao gồm những đôi chân có kinh nghiệm, tôi luyện qua không ít những ngọn núi cao nhưng quả thực hành trình lần này là một thử thách gian nan, đáng nhớ và nhiều ý nghĩa.


Từ đây lên đỉnh Pu Si Lung còn cả một hành trình dài. Đi trên hành lang biên giới nên phải rất cẩn thận bám nhau theo các anh biên phòng để không lạc sang nước bạn Trung Quốc. Qua rừng trúc rồi tới khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật đa dạng, ẩm ướt tới nỗi mỗi thân cây đều phủ trên mình một màu xanh ma mị của rêu phong.


Cả đoàn lấy cờ Tổ quốc và chụp hình lưu niệm với niềm tự hào dâng trào khi chinh phục thành công ngọn núi được mệnh danh là nóc nhà biên giới này.

Không tự hào sao được khi trên những đỉnh cao như vậy, cha ông ta đã từng ngàn năm chiến đấu bảo vệ mảnh đất quê hương.

Theo Hachi8 (Vnexpress)
Du lịch, GO!
Xem thêm

Núi Cấm đang “mở”

Trong những ngày này, công trình thi công cáp treo núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn, An Hảo, Tịnh Biên, An Giang) đang gấp rút hoàn tất để chính thức đưa vào phục vụ du khách lên đỉnh núi vào ngày lễ Tình nhân 14-2-2015, trước Tết Ất Mùi, với hành trình mới, thú vị hơn.

Theo truyền thuyết, khi Nguyễn Ánh bôn tẩu đã đến Thiên Cẩm Sơn ẩn náu. Muốn giấu kín tông tích, cận thần của ông phao tin có ác thú, yêu quái để cấm dân chúng lên núi. Từ đó, ngọn núi có tên dân gian là núi Cấm. Khi Nguyễn Ánh giành lại cơ đồ với vương hiệu Gia Long, núi Cấm đã “mở” cho người dân lên sinh sống và khai thác lâm sản. Lúc bấy giờ, ngọn núi tọa lạc giữa một vùng đất hoang vu, giặc cướp, thú dữ hoành hành. Sau năm 1975, đường lên đỉnh núi vẫn phải vẹt cây rừng mới có lối đi. Đi lả mồ hôi dù lúc nào trên núi cũng có sương mù.

Xem thêm

Leo đỉnh Pha Luông cần biết những gì?

(Zing) - Leo đỉnh Pha Luông không quá cao và không quá khó, dài như các núi ở miền Bắc khác, nhưng con đường để vào đến đồn biên phòng, điểm tập kết để bắt đầu leo mới là thử thách thực sự.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Những câu thơ quen thuộc trong bài thơ Tây Tiến một thời đã từng thúc giục trong tôi niềm khao khát 1 ngày nào đó sẽ được đến và khám phá vùng đất Pha Luông đó. Và chuyến đi Pha Luông, đỉnh núi cách Mộc Châu khoảng 70 km tại xã Tân Xuân, Chiềng Xuân đã không phụ lòng những người trẻ thích khám phá và thử thách bản thân.

Leo đỉnh Pha Luông không quá cao và không quá khó, dài như các núi ở miền Bắc khác, nhưng con đường để vào đến đồn biên phòng - điểm tập kết để bắt đầu leo mới là thử thách thực sự. Dulichgo

Những con đường đất đỏ, nhỏ xíu, dốc lên tức, nằm vắt vẻo từ quả núi này sang dãy núi khác. Những con ngựa sắt ì ạch cày và bò số 1 lên dốc, có những lúc phải hì hụi xuống đẩy nó mới chịu đi, có những lúc đôi bánh của nó quay tít mù và chịu khuất phục với những con dốc quá trơn. Hôm đó chúng tôi còn đi vào 1 ngày trời nắng đẹp, chứ ngày mưa chắc chắn đoàn sẽ đầu hàng hoặc gửi xe lại và đi bộ vào.

Kết thúc con đường hình như dài khoảng 10 km mà chúng tôi đi mất hơn 3 tiếng, là bữa cơm trưa vội cùng với các anh bộ đội biên phòng, lấy lại sức để chinh phục cung đường leo núi tiếp theo.

Cả đoàn cực kỳ háo hức kỳ vọng được gặp biển mây như lời chia sẻ của các anh bộ đội. Cung đường leo Pha Luông rất thú vị, chúng tôi trải qua những sự thay đổi cảnh sắc, thiên nhiên suốt đường đi.

Những trải nghiệm như là cúi rạp người đi giữa những hàng rừng trúc đan xen nhau như tạo thành 1 vòm cổng, lãng mạn như đi dưới con đường hạnh phúc. Rồi những cây lá phong cao vút, con đường trải đầy lá vàng ... cảm giác phiêu như trong một bộ phim vậy.

Đó là bám vào rễ cây, đu mình, trèo lên cây, rùi cả trượt bằng mông. Chúng tôi vừa đi vừa hát, vừa trò chuyện rùi lại phá lên cười với những màn trượt vồ ếch của mấy thành viên trong đoàn.

Trải qua một hành trình leo khoảng gần 4 tiếng, cả chúng tôi cùng vỡ òa lên hò hét khi nghe thấy tiếng mây vần vũ. Lần đầu tiên tôi biết mây vần vũ là như thế nào, và một biển mây bồng bềnh dưới chân mình như thế nào. Tôi như muốn nhảy ngay xuống biển mây kia.

Điểm đặc biệt của Pha Luông ngoài biển mây hùng vĩ, mà đây còn là ranh giới tự nhiên giữa Việt Nam và Lào. Chúng tôi có thể nhìn thấy con đường sang nước bạn Lào bên kia, nhìn thấy cột mốc biên giới mà các anh bộ đội hàng ngày tuần tra qua.

Và Pha Luông còn đáng nhớ hơn với chúng tôi đó là tình cảm giữa nhân dân với các anh bộ đội biên phòng nơi đây. . Bữa cơm tối ấm tình giúp chúng tôi cảm nhận rõ hơn về tình cảm quân dân gần gũi, là những câu chuyện về những vất vả, cuộc sống hàng ngày của các anh nơi đây mà chúng tôi thêm cảm phục và yêu quý các anh.

Chào tạm biệt Pha Luông, tạm biệt các anh bộ đội biên phòng. Chúng tôi tiếp tục một ngày khám phá mảnh đất Mộc châu với những cánh đồng hoa cải bạt ngàn và đẹp hấp dẫn đến lạ!

Tổng hợp một số kinh nghiệm cho các bạn đi Pha Luông như sau:

Lịch trình

Thời gian thực tế và hợp lý nhất là 2 ngày 2 đêm:
+ Nên xuất phát từ tối thứ sáu, nghỉ đêm tại Mộc Châu.
+ Sáng t7: Mộc Châu đi theo lối vào cửa khẩu Loóng Sập.

- Lưu ý phải liên tục hỏi đường người dân vào Pha Luông, vì có ngã rẽ vào Chiềng Ve, không sẽ bị đi quá và lạc.

- Gửi xe và làm thủ tục với đồn biên phòng. Dulichgo

- Ăn trưa trước rùi leo núi. Leo lên mất khoảng 3tiếng, chơi khoảng 1 tiếng, xuống núi 2-2,5tiếng.

- Khoảng 6-7 h tối xuống dưới núi.

+ Chủ nhật: Quay ra chơi Mộc Châu.

- Có một số cánh đồng cải ít người biết nhưng đẹp hơn rất nhiều so với đồng cải ở dọc đường. Các bạn hỏi đường vào bản Lùn, Mường Sang. Đi sâu vào trong, có một cánh đồng rất lớn, ít người biết nên cực đẹp.

- Khi trên đường về, các bạn nên đi theo cung đường đi Ba Khan (khi gần về đến chỗ đèo Thung khe, rẽ trái đi theo đường đó). Lưu ý phải hỏi người dân và nhìn kỹ biển.

Ba Khan cực đẹp vì đường đi vòng quanh hồ thủy điện Hòa Bình, bạn sẽ được nhìn cảnh hồ đẹp như vịnh Hạ Long, con đường lại cực yên tĩnh, thanh bình,với những dãy núi xẻ vàng ươm dưới ánh nắng mặt trời và những hàng bông lau phấp phới.

Các bạn nếu có thời gian đi dài ngày, có thể kết hợp ở thêm để thăm thú Mộc Châu, những điểm đáng vào nhất của dân phượt là Pa Phách, đồi chè Mộc Châu, ở lại 1 đêm đốt lửa trại ở rừng thông bản Áng…

Lưu ý:

- Trang phục: Mặc phải thật ấm nhưng nên mặc nhiều lớp. Leo núi nên phải đi giày chuyên leo núi hoặc giày bộ đội. Đừng đi giày thể thao bình thường vì nó không bám và rất trơn.

- Xe phải đi các xe lốp có độ bám tốt, vì đường đi cực kỳ trơn hoặc bác nào chế cái quấn lốp bằng xích giống như người dân địa phương thì càng chuẩn. Không nên đi xe gas.

- Nên mua miếng vàng dán đèn vì khả năng đi qua đèo Thung Khe rất dễ gặp sương mù.

- Nên thuê guide dẫn đường vì đường leo có khá nhiều ngã rẽ dễ lạc.
- Tất cả các thành viên đoàn phải mang đầy đủ giấy tờ tùy thân để làm thủ tục.

Theo Minh Nghĩa Bùi (Zing News)
Du lịch, GO!
Xem thêm

Đi trong sương lạnh Ba Vì

Cuối tháng 12 mà lên đỉnh núi Ba Vì thì có phải là điên không? Sương mù giăng phủ hầu như không thấy gì. Cả vùng rừng núi chìm lấp trong mây, ở những khoảng rừng thưa sáng một chút mới thấy được vòm cây mơ hồ, những thân cành cao to là thế giờ chỉ còn như những đường gân trên chiếc lá đã mục nát từ lâu.
Ba Vì, điểm cao nhất của thủ đô Hà Nội những ngày cuối năm giá lạnh trở nên kỳ ảo lạ thường. Tất cả được bao phủ trong màn sương mịt mùng dày đặc.

Từ trung tâm Hà Nội đi theo hướng Tây khoảng 65km, nhìn về phía tay trái trong làn mây trắng dày đặc, 3 đỉnh núi - Ba Vì mờ ảo xuất hiện. Cái tên Ba Vì không lạ lẫm với bất cứ dân mê khám phá nào. Nhưng khi bắt đầu bước vào Vườn quốc gia Ba Vì bạn như bước vào một thế giới khác, thế giới của không gian huyền ảo vương sương, nhuốm lạnh trong những ngày đông rét buốt.

Theo lối mòn từ cổng đi vào dẫn lối du khách vào trong rừng tre bạt ngàn, thông vi vút, rừng tùng rộng lớn. Những bụi tre đang ở lứa bánh tẻ xanh non, những hàng thông cao vút như khẽ khàng vờn trong gió lạnh. Dulichgo

Tạt qua phải là vườn xương rồng với 6.000 cá thể của hơn 1.000 loài xương rồng. Những hàng xương rồng dẫn theo những lối đá mòn nhỏ dẫn bạn đến với khu nhà kính sẽ cho bạn khám phá thật nhiều điều mới lạ trong thế giới của loài cây này.

Chặng đường lên đỉnh ngày càng trở nên khó khăn với sương mù dày đặc bao phủ, những đoạn cua tay áo chìm trong cái rét buốt lạnh của ngày đông. Chạy dò dẫm từng đoạn một, ngồi sau xe mà thót cả tim. Có lúc đến sát rồi mới giật mình thấy một tảng đá lớn có lẽ lăn xuống từ một đợt sạt lở nào đó, nằm chơ vơ bên đường. Hai bên bờ vực sâu thẳm lại cứ mời gọi ta bằng một khối trắng đục như sữa ngọt ngào.

Cuối cùng chúng tôi cũng lên được cốt 800, theo hướng vườn lan tìm vào dấu tích của nhà thờ và biệt thự Pháp. Nét hoang xơ, dấu vết thời gian như in hằn lên tường mảng tường rêu phủ xanh rờn, trong từng những đóng gạch đổ nằm giữa rừng sâu Ba Vì mà không phải ai đến đây cũng đều biết đến.

Càng lên cao, đường càng dốc hơn, mây mù có lúc đặc quánh. Cái lạnh như thấu vào tận xương nhưng cảm giác được khám phá, được chìm vào không gian của sương mù bao phủ giăng mắc khắp nơi lại khiến bạn không thể dừng bước. Vượt trên con đường ngoằn ngoèo, quanh co, uốn lượn dẫn lối đi giữa hai bên là rừng cây bạt ngàn kéo dài như vô tận.

Đến độ cao 1 200m, đặt chân lên đỉnh Ba Vì cho bạn cảm nhận thú vị của người chiến thắng trong hành trình chinh phục. Cả không gian bao la của đất trời như thu vào tầm mắt. Chìm sâu trong sương lạnh mờ ảo, bảng lảng có cảm giác như chúng tôi đang lạc vào không gian của nàng Alice lạc vào xứ sở thần tiên. Dulichgo

Leo tiếp 779 bậc đá phía tây sẽ đưa du khách lên viếng đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và leo 225 bậc đá phía đông sẽ dẫn lối du khách lên đền Thượng, nơi thờ Thánh Tản Viên. Nếu còn sức du khách có thể leo thêm mấy chục bậc đá nữa để lên đến tận đỉnh Vọng Cảnh bốn bề mây mù dày đặc bao phủ.

Đến Rừng Quốc Gia Ba Vì, khi kết thúc chuyến đi bạn cũng đừng quên thưởng thức những đặc sản như: rượu sữa ong chúa, bánh chè lam, bánh sữa, nước trà đắng hoặc mua chai phấn hoa và mật ong rừng về làm quà.

Đặc biệt trong hành trình khám phá Vườn quốc gia Ba Vì trong những ngày đông lạnh sẽ rất thú vị khi kết thúc hành trình du khách dừng chân một quán nhỏ ven đường gọi một cốc sữa tươi nóng, áp vào lòng bàn tay đưa nhẹ lên má để xua đi cái lạnh.

Gói chút nguyên xơ, hoang dại, thêm chút sương mù lạnh buốt trong hương nồng nồng âm ấm ấy du khách sẽ có những cảm nhận riêng để nhớ về những cung đường khám phá giữa “lá phổi xanh của thủ đô” – Vườn quốc gia Ba Vì.

Theo Afamily.vn
Du lịch, GO!
Xem thêm

Nghiêu Sơn Lĩnh - Cao Bằng

Sau khi Trần Dụ Tông mất, nhà Trần suy vong. Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, lập ra nhà Hồ. Quý Ly có nhiều chính sách cải cách đất nước không hợp với lòng dân. Lòng dân đã ly tán, nay ly tán thêm. Phong kiến phương Bắc là, nhà Minh lợi dụng điều đó cướp nước ta. Chúng đặt ách đô hộ tàn bạo. Chúng tiến chiếm Cao Bằng, đến đâu cướp phá tàn bạo, giết người, cướp của; nhân dân cả nước phẫn nộ, nhất tề đứng lên đánh giặc cứu nước.

Ở Cao Bằng có 2 hào trưởng đó là Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái kết bạn từ lâu - đứng ra tụ tập dân chúng trong miền đánh giặc. Nông Đắc Thái giỏi việc cung nỏ, có đội quân hàng trăm người, bắn trăm phát trăm trúng. Bế Khắc Thiệu giỏi việc quân, được tôn làm chủ tướng, bàn và chọn dãy núi Nghiêu Sơn Lĩnh làm nơi đóng quân, luyện quân đánh giặc; chọn vùng Phúc Tăng - Kỳ Chỉ làm hậu phương sản xuất lương thực nuôi quân và là nơi dấu quân. Hàng nghìn trai tráng theo cờ khởi nghĩa đánh giặc.

Vùng núi Nghiêu Sơn Lĩnh thuở đó cây cối âm u rậm rạp, là một dải núi nằm bên bờ hữu ngạn sông Bằng Giang. Có 2 ngọn núi cao là Khau Thước ở phía đông, Khau Khiêu ở phía tây. Chen giữa 2 ngọn núi là những khe sâu, có dải đồi trải rộng đến thành Nà Lữ, địa thế rất hiểm trở. Bế Khắc Thiệu cho san ngọn núi Khau Thước - mặt núi trở nên bằng phẳng có chiều dài gần 500 m, chiều rộng gần 100 m để dựng nhà kiên cố làm nơi trú quân, luyện quân.

Ngày nay còn di tích, có 2 đường lũy chính chạy dài hai phía quanh núi, chân thành rộng 15 m, thành cao 5 m. Ngọn Khau Khiêu cao ngất làm tiền tiêu quan sát giặc thù. Lại cho dân chúng và nghĩa binh khai phá đất đai vùng Phúc Tăng, Kỳ Chỉ thành ruộng rẫy cấy lúa, trồng ngô, lấy lương thực nuôi quân, dân. Dulichgo

Bế Khắc Thiệu nhiều lần đem quân vây thành Nà Lữ. Quân Minh nao núng, trốn hết về đóng ở Mộc Mã (thị xã Cao Bằng ngày nay). Nhiều lần, quân Minh đến vây thành Khau Thước, bị đội quân cung nỏ của Nông Đắc Thái bắn diệt nên chúng rất sợ hãi. Quân giặc thiếu lương ăn đã cướp thóc lúa, trâu bò, lợn của dân chúng. Nghĩa binh, dân chúng hợp lực đánh chặn lại. Chúng bỏ chạy, Bế Khắc Thiệu cho lập các dẻ như làng chiến đấu làm nơi giấu lương thực, trâu bò, tránh ẩn cho phụ nữ, người già, trẻ em, có dân quân bảo vệ phòng khi kẻ thù kéo đến cướp phá.

Giặc Minh lại cho tăng quân đến một vệ (50.000 người) đóng khắp nơi, trở lại chiếm thành Nà Lữ. Quân giặc càng đông, càng thiếu lương thực. Chúng khốn đốn, xin đến đàm phán với Bế Khắc Thiệu nhưng bị từ chối. Một đêm cuối thu năm Bính Ngọ (1426), tướng giặc Trình Dương đem đại quân, có kẻ gian dẫn đường, từ thành Nà Lữ, vượt qua Kẻ Chẵng, Roỏng Nguổc men theo chân núi phía tây của ngọn núi Khau Khiêu, tiến vào thung lũng Nà Khuổi, có ý định đánh tập hậu vào doanh trại nghĩa quân ở Khau Thước. Nghĩa quân phát hiện, báo cáo lên chủ tướng, Bế Khắc Thiệu cho quân mai phục dầy đặc hai ven núi thung lũng Nà Khuổi. Dulichgo

Khi quân địch lọt vào trận địa, Bế Khắc Thiệu phát lệnh tấn công, quân thù không kịp trở tay chết như rạ, kêu la thất thanh, tiếng khóc vang động cả khe thung lũng Nà Khuổi. Tướng Trình Dương rất sợ tay cung nỏ của Nông Đắc Thái, mặc áo giáp, đeo mặt na chỉ còn hở ra 2 con mắt, lọt vào trận địa, Nông Đắc Thái phát hiện, bật dây cung, một mũi tên xuyên thẳng vào mắt phải của Trình Dương, quân Minh dìu Trình Dương ra khỏi trận địa... Trời sáng, nghĩa quân thu dọn chiến trường, mới biết kẻ thù bị giết đến 4.000 tên. Xác giặc ngổn ngang, máu giặc chảy đỏ cả dòng suối Nà Khuổi. Nghĩa quân truy giặc đến thành Nà Lữ... Thành đã bỏ ngỏ, quân giặc đã trốn hết. Nhiều tin túc đưa về, quân địch đã trốn hết về nước. Cuối mùa thu năm 1426, Cao Bằng đã sạch bóng quân thù, hoàn toàn giải phóng.

Bế Khắc Thiệu xưng làm Châu Mục cai quản miền đất Cao Bằng; Nông Đắc Thái được coi việc quân. Nhớ công lao của Bế Khắc Thiệu, dân chúng đổi tên Khau Thước thành tên Khau Khắc Thiệu.

Nay ngọn núi này trong dải núi Nghiêu Sơn Linh nằm sừng sưng giữa lòng máng sông Bằng Giang. Là giao điểm của ba xã: Hồng Việt, Hoàng Tung, Bế Triều. Nghiêu Sơn Lĩnh là một thắng cảnh, một di tích lịch sử đáng ghi nhớ.

Theo E-cadao.com, ảnh internet
Du lịch, GO!
Xem thêm

Lên non tìm động Huyền Không

Nằm trong quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn, Huyền Không là một trong những động đẹp nhất, huyền ảo nhất, có giá trị tâm linh to lớn nhất. Động Huyền Không là một động lộ thiên, vòm hình tròn, nền bằng phẳng, trên vòm có 5 lỗ thông ra bên ngoài, ánh sáng tràn vào đây tạo một không khí huyền bí lung linh cho hang động.

Để vào được động Huyền Không phải bước xuống hơn 20 bậc cấp nằm sâu hơn động Hoa Nghiêm khoảng 5m, được ví động như chiếc chuông úp sấp, là một trong những động rộng, thoáng mát và đẹp nhất của quần thể Ngũ Hành Sơn, vòm động tiếp xúc với không gian bên ngoài, ánh sáng rọi vào làm động thêm lung linh huyền ảo. Ngày nắng, động được ví như chiếc điều hòa thiên nhiên bởi không khí mát mẻ, trong lành.

< Núi Thủy Sơn lớn nhất, nơi có động Huyền Không.

Đây là điều làm nên sự khác biệt của động Huyền Không đối với một số hang động khác ở Hạ Long, Phong Nha - Kẻ Bàng…

Trong khi các nơi phần lớn là động kín, ẩm, trong động phải thắp điện hoặc khi vào phải có đèn chiếu sáng thì động Huyền Không tuy ít thạch nhũ nhưng đủ độ thoáng và ánh sáng tự nhiên.

< Đường vào động Huyền Không.

Trên cao nhất là tượng Phật Thích Ca, được làm vào năm 1960 bởi nghệ nhân Nguyễn Chất, người nổi tiếng ở làng đá mỹ nghệ Non Nước. Dulichgo

Bên dưới là bàn thờ Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát. Bên trái động có đền thờ bà Ngọc Phi (bà Chúa Tiên), là nơi du khách đến cầu tài, cầu lộc; đền thờ bà Lồi Phi (Chúa Thượng Ngàn) được du khách đến cầu nguyện về sức khỏe và sự bình an.

< Huyền Không quan.

Sâu bên phải là đền Trang Nghiêm Tự cổ kính được xây dựng năm 1825, gồm ba gian. Gian chính thờ Phật Quan Âm, bên trái thờ 3 vị Thánh (gồm Quan Công, Quan Bình và Châu Xương) tượng trưng cho đức độ, trí dũng và lòng trung thành. Đặc biệt, gian bên phải thờ Ông Tơ, Bà Nguyệt, nơi các đôi trai gái đến cầu duyên, mong được Nguyệt Lão buộc sợi chỉ hồng trăm năm hạnh phúc.

Quanh vòm động có nhiều nhiễu đá bám vào vách tạo nên những hình thù lạ, đó là khuôn mặt ông già nhìn nghiêng, là hình con chim hạc hay đà điểu, hình hai đầu voi với chiếc vòi thả xuống, là con cò cùng chiếc mỏ dài nhọn ép vào vách động…

< Cửa động mở ra huyền ảo.

Động không có nhiều thạch nhũ đẹp. Tuy nhiên trên vách vẫn thấy một vài hình thù lạ và hay hay. Một thạch nhủ tên Vú Mẹ trước đây nước nhiễu ẩm ướt, nhưng vì nhiều người rờ quá, nên nước bây giờ không còn ướt nhiều nữa. Dulichgo

Động Huyền Không đi qua cổng vòm có 3 chữ Huyền Không Quan, cửa hơi hẹp, động tối, những bậc đi xuống sâu, giữa cửa động có tượng hình ông Thiện và ông Ác, như nhắc nhở con người phải thánh thiện, từ bi khi đến cõi sắc không của Phật.

< Ánh sáng chiều từ vòm động qua 5 khoảng trống trên đỉnh.

Bên cạnh thế giới tâm linh, động Huyền Không còn có giá trị lịch sử to lớn. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, đây là căn cứ hoạt động bí mật của cán bộ lãnh đạo địa phương và du kích. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã biến động Huyền Không thành nơi huấn luyện biệt kích đồng thời cũng là nơi đồn trú của nhiều đơn vị Mỹ - Ngụy.

Năm 1968 quân giải phóng đã đánh chiếm nơi đây, đồng loạt tấn công nhiều căn cứ lân cận và sân bay quân sự Nước Mặn. Huyền Không trở thành trạm giải phẫu và nơi cất giấu thương binh của quân giải phóng, ghi dấu những trận đánh oai hùng của quân dân Quảng Nam Đà Nẵng, tiêu biểu là trận đánh của anh hùng Phan Hiệp (người con Hòa Quý) rạng sáng ngày 23-8-1968. Đại đội trưởng Phan Hiệp được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và đổi tên thành Phan Hành Sơn.

< Chùa cổ Tam Thai.

Vào trong hang có ánh sáng từ trên cao chiếu qua lỗ trống trên động, càng làm vẻ đẹp lung linh huyền bí, vòm Động cao nhủ thạch bám vào vách tạo nhiều nét đẹp thiên nhiên, và bàn tay con người tạo thêm nhiều hình đẹp như tượng Phật Quan Âm, được điêu khắc công phu trên bệ thờ. Dulichgo

Phía bên phải là ngôi chùa nhỏ Trang Nghiêm Tự, bên cạnh có thạch nhũ nhỏ nước tí tách, dưới nền có khối đá điêu khắc tượng của người Chàm, khung cảnh hư ảo trong hang động tạo cho du khách như sống với thế giới vừa hư vừa thật, lấy tay vỗ lên trên đá nghe như tiếng trống bình bịch.

< Động Vân Thông hình tròn như đường ống chếch lên phía ngọn núi.

Động Huyền Không trên bàn thờ có tượng Thiên-Y-A-na – Chúa Ngọc, ngày xưa người ta có tục lệ làm hai lễ đặc biệt được cử hành bằng đức tin là “cắt huyết gà để thề” những việc tranh cãi thề thốt không nói dối, trước những đấng siêu hình chứng giám xác quyết lời thề sự thật tuyệt đối, vĩnh viễn không nuốt lời thề, người ta lấy dao cắt cổ con gà trống cổ nhổ sạch lông và cái bát đựng huyết gà để thề, nếu ai nói sai sẽ chết như con gà.

Nhiều người đến chùa cầu xin Thiên ân “cầu tự” cho những đàn bà chưa có con. Sau đó họ vào động Huyền Không uống nước từ thạch nhũ, các tục lệ trên ngày nay không còn như xưa nữa.

Ngày nay Động Huyền không trở thành một điểm không thể không dừng chân cho những ai đến với Đà Nẵng, đến với Ngũ Hành Sơn. Khung cảnh nơi đây vừa hư vừa thực, một không gian  mơ màng huyền bí.

Theo Mytour.vn
Du lịch, GO!
Xem thêm

Mình ta với Yên Tử

Mùa lễ hội của Yên Tử bắt đầu từ mùng 10 tháng Giêng đến hết tháng ba âm lịch. Nhưng với một số người, lên Yên Tử cuối năm, thời điểm được xem là vắng vẻ nhất tại đất thiêng của Phật giáo Việt Nam - nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông từ bỏ cuộc sống quyền quý để lên núi tu hành và sáng lập Thiền phái Trúc Lâm - mới cho khách hành hương sự thanh tịnh tuyệt đối để cảm nhận một Yên Tử bình yên, thiêng liêng và tuyệt đẹp .

Yên Tử cách Hà Nội khoảng 125km, từ bến xe Gia Lâm, du khách có thể bắt các tuyến xe đò đi ngang thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xuống xe ở Đền Trình Yên Tử, tại đây có xe đưa đón du khách từ Ban Quản lý Di tích và rừng Quốc gia Yên Tử, hoặc khách có thể đi xe ôm hay taxi đến chân núi. Cũng còn một tuyến đường được nhiều người chọn là đến TP Hải Phòng, đi qua thị trấn Núi Đèo rồi lên Yên Tử.

Đặt chân đến chân núi, đã thấy xa xa mây phủ trắng đỉnh non xanh, đúng như tên Bạch Vân Sơn mà nhiều người còn gọi Yên Tử.

Từ chân núi, có hai cách để lên đến đỉnh núi cao 1.068 mét (chùa Đồng): thứ nhất là dùng cáp treo (gồm 2 đoạn) và cách thứ hai được rất nhiều khách hành hương lựa chọn là leo những bậc đá với tổng chiều dài 6km len lỏi trong rừng thông rừng trúc, ghé thăm hàng trăm kiến trúc Phật giáo được xây dựng qua các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Dulichgo

Yên Tử là một quần thể kiến trúc Phật giáo nép mình giữa đại ngàn và núi non trên diện tích khoảng 2.686 hécta, trong đó có 1.736 hécta rừng. Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã kiến tạo hệ thống am, chùa đầu tiên để tu hành và thuyết giảng Phật pháp, sáng lập dòng Phật giáo riêng của Việt Nam. Sau đó các đời tổ sư của Thiền phái Trúc Lâm trải qua 700 năm giữ gìn, phát triển Trúc Lâm Yên Tử.

Hành trình lên Yên Tử chính thức bắt đầu từ suối Giải Oan với một cây cầu đá cổ dài 10 mét bắc ngang. Vẻ đẹp cổ kính hiển hiện từ màu đá, kiến trúc không cầu kỳ nhưng vững chắc. Cách đó không xa là Chùa Giải Oan. Tương truyền tên Giải Oan có nguồn gốc từ việc Vua Trần Nhân Tông thoái vị lên núi tu tập, các cung tần không thể thuyết phục ông trở về, đã gieo mình xuống suối tự vẫn, Phật Hoàng Nhân Tông đã lập chùa để giải oan siêu độ cho họ.

Chùa Giải Oan nằm ngay cửa ngõ vào Yên Tử, được phục dựng trên nền móng ngôi chùa cũ thời Trần, kiến trúc cổ kính trầm mặc hòa cùng cảnh sắc tĩnh lặng của vườn hoa, rừng cây xung quanh.

Đi qua những bậc đá xuyên qua Đường Tùng hoặc Đường Trúc, là đến quần thể chùa Hoa Yên (535 mét so mặt nước biển), còn gọi Chùa Cả, Chùa Vân Yên. Đây là trung tâm của toàn khu Di tích. Tương truyền nơi đây thế đất tựa đầu rồng nên được Phật hoàng Trần Nhân Tông lập Am Vân Yên để tu hành và giảng đạo, đến đời Tổ sư thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm – Thiền sư Pháp Loa – Am Vân Yên được xây dựng thành ngôi chùa vững chãi, uy nghiêm giữa non cao, với kiến trúc đậm dấu ấn thời Lý, Trần. Hơn 100 năm sau, chùa được Vua Lê Thánh Tôn đổi tên thành Hoa Yên.

Đến nay chùa đã được trùng tu nhiều lần trên nền được xây dựng vào thời Trần và lưu giữ nhiều cổ vật quý. Sân chùa có 3 cây Đại trên 700 năm tuổi. Trên đường đến Chùa Hoa Yên, khi vừa vượt qua Đường Tùng, là Vườn tháp Huệ Quang, với Tháp Tổ Huệ Quang làm trung tâm, là nơi giữ xá lợi của các vị Tổ sư Thiền phái Trúc Lâm. Riêng Tháp Tổ Huệ Quang được xây dựng vào năm 1309, một năm sau ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông qua đời. Đến được đây, bao mệt mỏi của hành trình leo núi dường như tan biến. Khách hành hương như lạc vào chốn khác với mây trắng bồng bềnh ngang núi, những tầng tháp, mái chùa thâm nghiêm, những cây cổ thụ 700 năm tuổi thân gồ ghề rêu phong vươn cành giữa mây gió.

Từ Hoa Yên, lên thêm khoảng 200 mét và lên cao nữa là những ngôi chùa lẩn khuất trong mây bên triền núi như Chùa Một Mái, Chùa Bảo Sái, Chùa Vân Tiêu… Từ đây nhìn xuống, sẽ thấy cảnh sắc tuyệt đẹp của núi rừng, trời mây Yên Tử. Tiếp tục lên cao sẽ bắt gặp tượng đá An Kỳ Sinh, hình dáng như một vị đạo sĩ với nhiều truyền thuyết xoay quanh xuất xứ và thân thế của bức tượng. Khi còn hơn 700 mét nữa là đến đỉnh, không còn những bậc thang, mà còn chỉ còn những tảng đá nhỏ để khách hành hương hướng về Chùa Đồng. Dulichgo

Có người ví Chùa Đồng tọa lạc trên một tòa sen bởi đỉnh Yên Tử như một đóa hoa, mỗi phiến đá là một cánh sen. Chùa Đồng được dựng vào thời Lê, sau do thiên tai chùa không còn và trải qua nhiều lần phục dựng. Năm 2006, Ban Trị sự Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Quảng Ninh và Ban Quản lý Dự án tôn tạo Yên Tử tổ chức Đại lễ khởi công đúc Chùa bằng đồng có trọng lượng 70 tấn, chiều dài 4,6m, chiều rộng 3,6m, chiều cao 3,35m. Lên đến đây, khách hành hương sẽ không khỏi lâng lâng bay bổng với cảm giác như chạm đến mây trời, những hôm thời tiết tốt, có thể phóng mắt nhìn bao quát của vùng Đông Bắc Bộ, thấp thoáng là những đảo nhỏ của Vịnh Hạ Long, xa xa là sông Bạch Đằng mờ ảo.

Dọc đường xuống, nếu còn thời gian, còn có rất nhiều di tích khách phải viếng thăm, như Chùa Bí Thượng, Chùa Suối Tắm, Chùa Cầm Thực, Chùa Lân, Hòn Ngọc, Cổng Trời, Bia Phật… Tất cả đều cổ kính, đều gắn liền với truyền thuyết, với lịch sử khai sáng dòng Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam.

Đến Yên Tử không chỉ là đến với những kiến trúc và lịch sử Phật giáo mà còn đến với khung cảnh thiên nhiên đẹp đến nao lòng. Khách sẽ không quên cảm giác len lỏi quanh các lối đi dẫn lên các chùa, am, tháp… rợp xanh bóng cây tùng, đặc biệt là tại Đường Tùng. Theo Ban Quản lý Di tích và Rừng Quốc gia Yên Tử, tại đây có 242 cây tùng trên 700 tuổi, đến nay vẫn sừng sững giữa trời mây Yên Tử.

Một loại cây khác cũng khiến Yên Tử thêm đặc biệt là trúc, được trồng thành Đường Trúc dẫn đến chùa Hoa Yên và ven nhiều lối đi. Tương truyền Phật Hoàng Trần Nhân Tông chọn tùng và trúc đem về trồng ở Yên Tử với ý nghĩa tượng trưng cho khí khái, phẩm chất của người quân tử; sức sống dẻo dai, thanh bạch và tao nhã của người tu hành. Khách hành hương đến đây đặc biệt ấn tượng với rễ cây tùng mọc trồi hẳn lên mặt đất, ôm lấy những bậc đá dẫn lên đỉnh non xanh, tạo cảm giác như đang nâng bước người lễ Phật. Và nhiều người cũng ý thức nhắc nhau đi cẩn thận, không giẫm lên rễ cây, bởi mỗi năm hàng chục ngàn người đến Yên Tử, mỗi người chạm nhẹ cũng đủ kinh động cổ thụ trăm năm.

Yên Tử mùa Xuân còn đặc biệt bởi mai vàng nở trên vách núi, xen kẽ với những tán rừng xanh thẫm. Hoa mai Yên Tử nở từng chùm, có màu thơm nhẹ, thân cây thường mọc ra từ vách đá, khe suối, cao từ 15-17 mét, đa số đều là những lão mai trên 100 tuổi. Nhiều người nói rằng, mai vàng Yên Tử cũng do Phật hoàng Trần Nhân Tông ươm trồng.

Ngoài ra Yên Tử còn có những ngọn thác hoang sơ tuyệt đẹp: Thác Vàng từ núi Bạch Hổ và Thác Bạc từ núi Thanh Long cùng có dòng chảy ánh kim xuôi về phía Nam, bao quanh thung lũng Giải Oan, được ví như đường tụ thủy lưu giữ khí thiêng. Còn Thác Ngự Dội là nơi Vua Trần Nhân Tông thường ra tắm gội, sau đó tọa thiền tại Am Thiền Định cạnh bên.

Theo Tấn Lộc (Báo Cần Thơ), ảnh internet
Du lịch, GO!
Xem thêm
Loading...