Hiển thị các bài đăng có nhãn 1001 Bí ẩn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 1001 Bí ẩn. Hiển thị tất cả bài đăng

Nhờ đào Bitcoin, startup bí ẩn này của Trung Quốc có lợi nhuận ngang ngửa với Nvidia

Theo ước tính của các nhà phân tích tại Bernstein, một startup bí ẩn của Trung Quốc có tên gọi Bitmain, vốn thống trị ngành công nghiệp đào Bitcoin , dường như đã có thu nhập tương đương với nhà sản xuất chip Nvidia vào năm ngoái.

Dựa trên những ước lượng dè dặt về lợi nhuận gộp khoảng 75% và lợi nhuận biên hoạt động khoảng 65%, các nhà phân tích tính toán rằng Bitmain đã tạo ra mức lợi nhuận hoạt động từ 3 tỷ cho đến 4 tỷ USD trong năm 2017. Nhóm phân tích về bán dẫn của Bernstein ước tính lợi nhuận hoạt động của Nvidia trong cùng kỳ là khoảng 3 tỷ USD.

“Nhưng Bitmain đạt được điều này chỉ trong bốn năm, trong khi mất 24 năm Nvidia mới đạt được con số này.” Các nhà phân tích của Bernstein cho biết trong báo cáo phát hành vào ngày thứ Tư.

Bitmain - Người khổng lồ trong thế giới Bitcoin

Bitmain, startup tại Bắc Kinh này được Jihan Wu và Micree Zhan sáng lập vào năm 2013. Từ đó, công ty đã lớn mạnh thành một trong những hãng chủ chốt trong lĩnh vực đào Bitcoin, quá trình sử dụng sức mạnh điện toán để tạo ra các đồng Bitcoin. Wu cũng là một người nổi tiếng trong thế giới Bitcoin.

Trong những ngày đầu của Bitcoin, những người say mê với nó có thể sử dụng các card đồ họa thông thường là đủ sức mạnh điện toán để kiếm lợi nhuận từ việc đào đồng tiền mã hóa này. Nhưng vào năm 2013, một công ty tại Trung Quốc biến việc đào Bitcoin này thành một quá trình chuyên biệt bằng cách bán các mạch tích hợp dành riêng cho các ứng dụng cụ thể (hay ASIC), nhờ đó các card chip máy tính có thể đào Bitcoin với tốc độ nhanh hơn gấp 50 lần so với các card đồ họa truyền thống.

Hiện nay, Bitmain đang bán dàn máy đào Bitcoin có tên Antminer với mức giá từ vài trăm đến vài ngàn USD cho mỗi bộ. Công ty cũng vận hành các “mining pool” – các bể khai thác – trong đó những người tham gia cùng hợp tác đào Bitcoin để cắt giảm chi phí. Kết quả là, Bernstein ước tính Bitmain chiếm 70-80% thị phần trong số những người đào Bitcoin và chip ASIC.
Doanh thu của Bitmain (phần màu ghi) đến từ rất nhiều phần trong chuỗi cung ứng cho việc đào Bitcoin.

Các nhà phân tích ước tính rằng phần lớn doanh thu của Bitmain được tạo ra từ việc bán cho những người đào Bitcoin đang sử dụng chip của công ty. “Số còn lại phần lớn được tạo ra bằng cách tự đào, và ở mức độ thấp hơn nữa là phí quản lý thu được từ các bể khai thác mà họ vận hành, và cho thuê sức mạnh xử lý từ các trang trại đào Bitcoin thông qua dịch vụ đám mây.”

Báo cáo của Bernstein cũng cho biết, phần nhiều tăng trưởng trong doanh thu đào Bitcoin đến từ đà tăng phi mã của giá Bitcoin. Các nhà phân tích của hãng cũng chỉ ra rằng “Bitmain điều chỉnh một cách khéo léo mức giá cho các thợ đào theo giá Bitcoin."

Vì vậy, theo ước tính của Bernstein, khi giá Bitcoin tăng thần tốc lên 20.000 USD vào cuối năm ngoái, mức giá của dàn máy Antminer S9 cũng leo lên gần 5.000 USD trong khi chi phí sản xuất vẫn không đổi.
Tương quan giữa giá Bitcoin và giá dàn máy đào Antminer S9, trong khi chi phí sản xuất của S9 hầu như không đổi.

Để kết luận về con số lợi nhuận hoạt động từ 3 tỷ đến 4 tỷ USD, các nhà phân tích tại Bernstein cũng nhìn vào con số mua hàng từ TSMC của Bitmain và ước tính rằng startup này đã đóng góp từ 2% đến 3% tổng doanh thu của nhà sản xuất chip này trong năm ngoái.

“Trong năm 2018, Bitmain dường như sẽ dẫn đầu ngành công nghiệp sản xuất chip ASIC đào tiền mã hóa và dịch chuyển một số chip của mình sang 10nm và công nghệ tiên tiến nhất 7nm.” Báo cáo cho biết. “Điều đó sẽ làm công ty trở thành một trong năm người dùng chíp 7nm của TSMC trong năm 2018, với nhu cầu có thể tương đương với Qualcomm, HiSilicon và AMD.”
Nhu cầu về chip 7nm do TSMC gia công theo từng công ty.

Nhưng tăng trưởng trong dài hạn thì không đảm bảo, đặc biệt là trong thế giới tiền mã hóa đầy biến động. Bitcoin đã mất nửa giá trị của mình trong khoảng 2 tháng giữa những lo lắng về việc siết chặt quy định của các nhà quản lý.

Cho đến nay, chính quyền Trung Quốc đã có một số hành động mạnh mẽ bằng cách cấm các hoạt động ICO và khiến cho hoạt động giao dịch Bitcoin tại quốc gia này bị ngưng trệ.

Bitmain đã có những bước đi chiến lược để đón trước tình hình

Theo báo cáo của Bernstein, vào cuối tháng 4, công ty đã ra mắt một bể khai thác mới ở Israel, và đang mở cửa các trang trại khai thác ở Canada và Thụy Sỹ, và trụ sở khu vực tại Singapore. Bitmain cũng đang mở rộng mảng kinh doanh của họ tới những đồng tiền kỹ thuật số khác như Ethereum và Monero.

Các nhà phân tích tại Bernstein cho rằng, công ty Trung Quốc đang có một “vị thế tiền mặt khổng lồ” sẽ giúp họ vượt qua được giai đoạn khó khăn của ngành công nghiệp này. Và với mảng kinh doanh đào Bitcoin của mình, Bitmain bảo vệ bản thân khỏi việc thua lỗ quá nhiều cho nhà đầu cơ bằng cách bán chip cho các thợ đào, thay vì tự đào Bitcoin hoàn toàn.

“Một số tiền vẫn được để lại cho các khách hàng, nhưng có rất nhiều rủi ro.” Báo cáo cho biết. “Theo quan điểm của chúng tôi, kết quả là rất đáng chú ý.”

Theo Trí thức trẻ
Xem thêm

Bí ẩn về 'con tàu ma' không người lái lênh đênh trên biển hơn 3 thập kỷ

Câu chuyện bí ẩn về 'con tàu ma' Baychimo gặp nạn trên biển sau đó nhiều lần xuất hiện rồi lại biến mất hoàn toàn cho đến nay vẫn khiến giới khoa học đau đầu vì chưa thể tìm ra lời giải.

Con tàu Baychimo mất tích vào tháng 10/1931, và lần cuối cùng người ta thấy nó vào năm 1969. Câu chuyện về con tàu ma Baychimo cho đến nay vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất trong lịch sử hàng hải thế giới.
Câu chuyện về con tàu ma Baychimo cho đến nay vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất trong lịch sử hàng hải thế giới. Ảnh tư liệu

Tàu SS Baychimo hay còn được gọi là SS Angermanelfven được đóng năm 1914 tại Thụy Sĩ. Đây là tàu bọc thép có tải trọng 1.332 tấn, chạy bằng hơi nước, có nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa từ Hamburg đến Thụy Điển và ngược lại.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, Baychimo được giao cho Anh. Kể từ đó, con tàu được cả thế giới biết đến sau 9 cuộc hành trình vượt biển thành công ở vùng biển Tây Bắc khắc nghiệt của Canada.

Tuy nhiên, mọi chuyện thay đổi trong lần Baychimo ra khơi lần thứ 10 khi thực hiện chuyến hải hành đến Vancouver.

Đó là ngày 1/10/1931, con tàu huyền thoại Baychimo bị mắc kẹt trong lớp băng dày gần thành phố Barrow, Alaska sau khi một cơn bão tuyết ập tới.

Khi con tàu gặp nạn, một nửa thành viên thủy thủ đoàn được trực thăng cứu hộ an toàn. Thuyền trưởng John Cornwell và 14 thành viên khác từ chối quay trở về và quyết định bám trụ để cố gắng cứu lấy con tàu.

Hai ngày sau, đoàn thủy thủ quay lại vị trí tàu bị kẹt và sửng sốt khi thấy con tàu tự phá băng và đang trôi bất định trên biển. Thế nhưng đến ngày 8/10, con tàu lại gặp núi băng và tiếp tục bị kẹt trong đó một lần nữa.

Thế nhưng, những nỗ lực giải cứu cũng chỉ gắng gượng được thêm vài ngày bởi không lâu sau đó, một trận bão tuyết kinh hoàng ập đến. Rạng sáng ngày 25/10, Baychimo biến mất trên biển.

Sau ngày biến mất định mệnh đó, các nhà thám hiểm và khách du lịch vẫn thường xuyên nhìn thấy con tàu trôi dạt ở nhiều nơi khác nhau trên biển.

Nhiều người cho biết họ cố gắng tiếp cận nhưng mỗi khi lại gần con tàu lại gặp những biến cố bất chợt trên biển và con tàu lại "bốc hơi" như chưa từng xuất hiện.
Toàn cảnh con tàu SS Baychimo

Vào tháng 3/1962, người ta nhìn thấy Baychimo trôi dạt ở vùng biển Beaufort. Đến năm 1969, sau 38 năm lênh đênh trôi dạt vô định, tàu Baychimo được nhìn thấy lần cuối cùng ở khu vực giữa Point Barrow và Cape Icy thuộc vùng biển Chukchi. Từ đó đến nay, con tàu biến mất hoàn toàn.

Nhiều người cho rằng các cơn bão, sông băng cùng những hiện tượng siêu nhiên bí ẩn tại vùng Tam giác quỷ Bermuda là nguyên nhân gây ra vụ mất tích của thủy thủ đoàn và con tàu Baychimo. Cho đến nay, lời lý giải thỏa đáng mang tên con tàu Baychimo vẫn còn bỏ ngỏ.

Tương tự, tại vùng Tam giác quỷ Bermuda, con tàu Carroll A. Deering cũng đã biến mất bí ẩn và nó được nhìn thấy lần cuối cùng vào ngày 28/1/1921.

Câu chuyện bắt đầu trên chuyến hành trình từ thành phố cảng Rio de Janeiro, Brazil trở về bến cảng Norfolk, Virginia, Mỹ. Thuyền trưởng của tàu là William H. Merritt đột nhiên ngã bệnh, ông được đưa lên bờ chữa trị cùng con trai, cũng là thuyền phó khi ấy.

Họ thuê thuyền trưởng và thuyền phó mới là W.B. Wormell, C.B. McLellan cùng thủy thủ đoàn tiếp tục chuyến hành trình. Tuy nhiên, trong lúc say rượu, viên thuyền trưởng đã mâu thuẫn với thủy thủ đoàn, gây nên những mâu thuẫn nội bộ.

Tàu Carroll A. Deering đã không về cảng Norfolk như dự kiến mà được tìm thấy khi đang lênh đênh trong tình trạng không người lái ở Mũi Cape Hatteras, phía bắc bang Carolina, Mỹ.

Khi xem xét con tàu, người ta phát hiện tàu không có bất kỳ thuyền viên nào, không đồ dùng cá nhân và hai xuồng cứu sinh cũng biến mất.

Họ cho rằng, có thể tàu đã bị cướp biển, những kẻ buôn lậu rượu hoành hành, bị mắc bão hoặc đã có cuộc nổi loạn trên tàu và các thuyền viên đã bỏ tàu mà đi. Cho đến nay, người ta vẫn chưa lý giải thỏa đáng về sự mất tích của nó.

Từ đó, Carroll A. Deering trở thành một trong những bí mật hàng hải tốn nhiều công sức tìm hiểu nhất lịch sử.

Tổng hợp
Xem thêm

Cuộc đời đầy biến cố và sự mất tích bí ẩn của một thiên tài vật lý

Nhà vật lý trẻ tuổi và chưa được nhiều người biết đến sau này đã trở thành một trong những cái tên bí ẩn và gây nhiều tranh cãi nhất trong suốt thế kỷ XX. Người mà trước những biến cố của xã hội, trong một bước ngoặt đột ngột đã trở thành thiên tài ở một lĩnh vực mà ông không hề mong muốn.

Vào giữa những năm 1930, khi cuộc Đại suy thoái xảy ra ở phương Tây, dường như cả thế giới bị rơi vào cơn bão tài chính kinh hoàng. Thương mại quốc tế đã giảm gần 30% và cả nền công nghiệp rung chuyển với gần 30 triệu người đã thất nghiệp trên toàn thế giới vào năm 1932. Lúc này, ở châu Âu, chủ nghĩa phát xít phát triển mạnh ở Đức, Adolf Hitler và Đức Quốc xã lên nắm quyền, phục hồi sức mạnh kinh tế Đức, và một cuộc chiến tranh đang đe doạ tất cả châu Âu.

Các nhà độc tài hiểu rõ tầm quan trọng của những phát triển khoa học sẽ mang lại lợi ích cho bất kỳ quốc gia nào. Trong suốt những năm 1930, các nước lớn đều đầu tư vào nghiên cứu về vật lý, tập trung chủ yếu vào phóng xạ và các loại vũ khí hạt nhân. Vào năm 1932, các nhà nghiên cứu Frédéric Joliot và Irène Joliot-Curie đã ghi lại sự tồn tại của một hạt mới và không bình thường, nghi ngờ nó có thể là bằng chứng của những tia gamma bí ẩn. Tuy nhiên, khám phá này đã được giải thích một cách khác biệt bởi một nhà vật lý trẻ tuổi và chưa được nhiều người biết đến, người sau này trở thành một trong những cái tên bí ẩn và gây nhiều tranh cãi nhất trong khoa học suốt thế kỷ XX.

Một thiên tài không mong muốn

Ettore Majorana sinh ra ở Catania, Sicily, và từ khi còn rất nhỏ ông đã đam mê nghiên cứu, nhất là về vật lý. Khi mới chớm tuổi thành niên, Majorana tham gia vào nhóm "Via Panisperna boys" của Enrico Fermi, một nhóm các nhà nghiên cứu trẻ tuổi ghi nhận phát hiện đầu tiên về nơ-tron, bao gồm năng lượng từ 1-10 eV. Phát hiện nổi tiếng này dẫn đến sự phát triển của lò phản ứng hạt nhân, sau đó đã giúp tạo ra các quả bom nguyên tử. Trước những biến cố của xã hội, trong một bước ngoặt đột ngột, nhà khoa học trẻ tuổi đã trở thành thiên tài ở một lĩnh vực mà ông không hề mong muốn.

Và sau này, thật đáng buồn, mặc dù có nhiều thành tựu xuất sắc trong khoa học nhưng Majorana được biết đến nhiều nhất bên ngoài các thành quả khoa học của ông. Ông được nhớ và nhắc nhở nhiều nhất vì những tình huống kỳ lạ liên quan đến sự biến mất đầy bí ẩn.

Sự biến mất

Vào thời điểm đang là nhà khoa học tài năng ở Viện vật lý Naples, Majorana đã quyết định ra đi đột ngột, lúc đầu người ta cho rằng, ông quay trở về quê hương để gặp gỡ mọi người trong gia đình, nhưng gia đình ông cũng không biết Majorana đi đâu. Cùng với sự ra đi đột ngột này, Majorana đã để lại lời nhắn cho Antonio Carrelli, Giám đốc Viện Vật lý Naples rằng ông “cảm thấy buồn, bất lực và không tìm ra lối thoát...”.

Thông điệp trong lời nhắn của Majorana dẫn đến ý kiến cho rằng ông đã tự sát. Tuy nhiên, sau đó cảnh sát phát hiện ra Majorana mua một vé tàu quay trở lại Naples, nhưng không một ai tìm thấy ông ở Naples. Những đồng nghiệp tại Viện Vật lý Naples vẫn cho rằng, nhà vật lý tài năng không hài lòng với công việc của mình nên đã gia nhập một tu viện, hoặc đã tự sát.

Mặc dù có rất nhiều giả thuyết cho tới tận những năm 2000 với vô số phỏng đoán và những manh mối liên quan đến sự biến mất của Majorana nhưng sự mất tích của ông vẫn hoàn toàn bí ẩn. Tuy nhiên, vào năm 2008, một sự kiện kỳ ​​lạ dẫn một bước đột phá trong vụ việc khi một người gọi điện thoại tới chương trình truyền hình của Ý tên là Chi l'ha visto(Người đã nhìn thấy anh ta), kể rằng anh ta có một bức ảnh chụp người đàn ông được cho là Majorana. Thông tin này đã thuyết phục Bộ Tư pháp Rome bắt đầu cuộc điều tra riêng về vụ án, trong đó Carabinieri (cảnh sát quân đội Ý) đã phân tích bức ảnh và phát hiện ra những điểm tương đồng trong bức ảnh được chụp khoảng năm 1955 tại Argentina với những bức ảnh trước đó của Ettore Majorana.

Cuối cùng, vào tháng 2 năm 2015, Văn phòng Bộ Tư pháp Rome đã đưa ra một tuyên bố chính thức, nói rằng Majorana thực sự vẫn còn sống sau khi biến mất khỏi Naples, và ông đã chuyển đến ở ẩn tại Nam Mỹ, nơi ông sống cho đến khi qua đời. "Ettore Majorana, một nhà vật lí vĩ đại được xếp hạng chung với những nhân vật như Newton và Einstein đã mất tích một cách bí ẩn vào năm 1938, vẫn còn sống trong giai đoạn 1955-1959 tại thành phố Valencia của Venezuelan” – thông điệp cuối cùng của Văn phòng Bộ Tư pháp Rome đã đưa ra thông tin như vậy.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là tại sao nhà vật lý học này lại bỏ lại công việc và gia đình của mình để sống ẩn dật tại một nơi khác trên thế giới? Một số thành viên trong gia đình, cũng như các nhà nghiên cứu cho rằng, Majorana đã trốn tránh, sợ những hậu quả về mặt đạo đức và tâm lý về công việc của mình, giúp tạo ra vũ khí nguyên tử, khiến cho ông cảm thấy bất lực với bản thân dẫn đến quyết định tiêu cực trên.

Theo 24h
Xem thêm

5 đứa trẻ mất tích bí ẩn trong đêm Giáng sinh, bí mật hơn nửa thế kỷ

Đêm Giáng sinh năm 1945, sau một đám cháy, 5 đứa trẻ nhà Sodder bỗng mất tích bí ẩn. Người ta cho rằng chúng đã chết trong hỏa hoạn nhưng không mảnh xương nào được tìm thấy.

Trong nhiều thập kỷ, du khách đến Fayetteville, Tây Virginia (Mỹ) đã bắt gặp những hình ảnh xa lạ với họ nhưng vô cùng quen thuộc với cư dân nơi đây. Đó là những tấm biển báo dán hình 5 đứa trẻ cùng thông báo khẩn cầu trong vô vọng: Bất kỳ ai, nếu có chút thông tin gì, dù nhỏ bé, về các em, hãy ngay lập tức báo cho cha mẹ chúng.

Vô vọng

Theo thông báo chính thức từ chính quyền, 5 đứa trẻ họ Sodder, gồm Maurice, Martha, Louis, Jennie và Betty, tuổi từ 5 đến 14, đã chết trong một đám cháy xảy ra với ngôi nhà của các em vào đêm Giáng sinh năm 1945.
5 đứa trẻ mất tích nhà Sodder.

Tuy nhiên, theo như lời ông bà Sodder, những đứa trẻ khác sống sót sau vụ hỏa hoạn năm xưa cùng mạng lưới các tay săn tin nghiệp dư trong vùng, Maurice, Martha, Louis, Jennie và Betty có thể đã bị bắt cóc trong một kế hoạch nhằm trả thù gia đình Sodder. Đến nay, vụ mất tích của 5 đứa trẻ nhà Sodder vẫn còn là điều bí ẩn chưa có lời giải đáp thực sự thỏa đáng.

George và Jennie Sodder đều là những người nhập cư gốc Italy vào Mỹ. Cặp đôi này là ví dụ điển hình về giấc mơ Mỹ. George đã từng bước đi lên từ một công nhân làm việc trong ngành đường sắt tại Pennsylvania để trở thành chủ một công ty xe tải nhỏ ở Tây Virginia. Vợ chồng George và Jennie Sodder có 10 người con. Họ chung sống trong một căn nhà hai tầng ở phía bắc Fayetteville, nơi rất nhiều người nhập cư Italy cùng con cháu định cư.

George là một người lao động chăm chỉ, một người đàn ông vì gia đình và ông không bao giờ ngại ngần chia sẻ đức tin của mình. Ông thường xuyên nói về việc mình không thể chấp nhận nổi nhà độc tài phát xít Benito Mussolini ra sao. Đối với không ít người Mỹ gốc Italy trước Thế chiến II, Benito Mussolini lại là đại diện cho sức mạnh Italy. Chính vì niềm tin của mình, việc George xảy ra cự cãi với những người Mỹ gốc Italy khác là điều không thể tránh khỏi. Gia đình Sodder khẳng định trong suốt quãng thời gian chiến tranh, George từng là mục tiêu bị đe dọa.

Khoảng một giờ sáng, Jennie Sodder bất chợt tỉnh giấc vì một tiếng nổ trên mái nhà, kèm theo nhiều tiếng ồn. Jennie không chú ý lắm và quay trở lại giấc ngủ nhưng 30 phút sau bà phải tỉnh dậy một lần nữa vì ngửi thấy mùi khói. Jennie nhanh chóng phát hiện ra một ngọn lửa bốc lên từ hộp cầu chì bên trong văn phòng của George.

George, Jennie, Marion, cô bé Sylvia hai tuổi cùng hai đứa trẻ lớn nhà Sodder đã thoát khỏi ngôi nhà thành công. John Sodder ban đầu quả quyết rằng cậu bé đã chạy lên tầng trên để đánh thức các em. Tuy nhiên, sau đó, John lại thay đổi lời khai, nói rằng mình chỉ đứng ở dưới nhà và gọi với lên.

Tai họa bí ẩn

Thêm vào đó, hàng loạt tai họa bí ẩn bỗng liên tiếp xảy ra khiến nỗ lực giải cứu bất thành. Chiếc thang lớn, thường được đặt dựa vào tường nhà, tự nhiên biến mất không để lại dấu vết. Nước trong các thùng bị đóng băng và đường dây điện thoại hỏng rất đúng lúc.
Bức ảnh được cho là của Louis Sodder lúc trưởng thành.

George Sodder cố gắng khởi động xe tải đánh về phía dưới cửa sổ để trèo lên mái nhà giải cứu lũ trẻ. Song động cơ xe không thể khởi động dù mới hồi đầu tuần chúng vẫn hoạt động bình thường. Tuyệt vọng, George trèo tường, đập vỡ cửa sổ gác mái. Dù vậy, George không thể vươn tới phòng ngủ trên lầu.

Gia đình Sodder chỉ còn biết đứng nhìn ngôi nhà bị ngọn lửa nuốt trọn và đinh ninh rằng 5 đứa trẻ đã bỏ mạng trong đám cháy.

8h sáng hôm sau, xe cứu hỏa mới có mặt. Một lý do giải thích cho sự chậm trễ là đội trưởng đội cứu hỏa Fayetteville, ông F.J. Morris không thể tự lái chiếc xe chữa cháy của đơn vị mình.

Nhà chức trách không tìm thấy bất kỳ mảnh xương nào. Gia đình Sodder được bảo rằng có lẽ 5 đứa trẻ Maurice, Martha, Louis, Jennie và Betty đã bị cháy thành tro, không còn xương sót lại. Về sau, George Sodder, không thể chịu đựng việc phải nhìn thấy ngôi nhà thân yêu của họ chỉ còn là một đống tro tàn, đã dùng máy xúc chôn vùi những gì còn sót lại.

Nhà Sodder tin rằng những đứa trẻ có thể đã không chết mà chúng bị bắt cóc, có lẽ bởi các thành viên băng đảng Mafia, những kẻ đã phẫn nộ với George về thái độ chống Mussolini.

Nhà Sodder quyết định thuê một điều tra viên riêng. Người này sau đó nhanh chóng tìm ra một manh mối gây sốc. Đội trưởng đội chữa cháy Fayetteville F.J. Morris tìm thấy một trái tim dưới đống tro tàn của căn nhà nhưng ông ta đã bí mật cất chúng vào một chiếc hộp rồi đem chôn.

Đối diện với lời buộc tội, Morris đã thừa nhận toàn bộ câu chuyện. Morris đưa gia đình Sodder tới nơi ông chôn chiếc hộp. Tuy nhiên, giám đốc ban tổ chức tang lễ địa phương cho biết đó chỉ là một miếng gan bò sống.

Theo nongnghiep
Xem thêm

Xác ướp 5000 năm tuổi Otzi và lời nguyền bí ẩn

Các xác ướp luôn mang theo mình những bí mật. Và đôi khi, nếu vi phạm vào những điều bí mật ấy, người ta sẽ phải chịu những hậu quả khủng khiếp. “Người băng” Otzi cũng là một trong những xác ướp mang lời nguyền như vậy. Thực hư sau câu chuyện này là gì?

Người băng Otzi là ai?
Vào ngày 19/9/1991, trong khi đang tìm đường vượt qua dãy núi Otztal Alps, 2 nhà leo núi người Đức đã phát hiện ra một xác ướp được bảo quản nguyên vẹn trong băng - đây được xem là xác ướp có niên đại cổ nhất Châu Âu.

Cuộc khám nghiệm xác ướp gây tranh cãi sau đó được tiến hành tại Hauslabjoch, biên giới giữa Áo và Italy. Các nhà khoa học đã đưa ra hàng loạt giả thuyết về tuổi của xác ướp vào thời điểm tử vong, nguyên nhân tử vong, tình trạng sức khỏe… nhưng quan trọng nhất là câu hỏi: Anh ta đã làm gì giữa đỉnh núi Alps quanh năm tuyết phủ này?
Xác ướp Otzi được bảo quản nguyên vẹn trong băng

Còn được biết đến với biệt danh “Người băng Tyrolean”, Otzi là một xác ướp 45 tuổi. Trên người còn trang bị khá nhiều dụng cụ như rìu đá, cung tên chưa hoàn thành, túi đựng tên bằng da và một khung dạng ba-lô làm bằng gỗ thông và gỗ dẻ. Vào thời điểm đó, các nhà khoa học đã xác định một vài vật dụng của Otzi đã được sử dụng từ nhiều ngàn năm trước. Rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên xác ướp Otzi, và các nhà khảo cổ tin rằng có thể Otzi đã sống trong thời kỳ chuyển tiếp giữa thời Đồ Đồng và Đồ Đá ở Trung Âu hơn 5.000 năm trước. Các nghiên cứu về mô cơ thể của Otzi bằng phương pháp phóng xạ carbon cho thấy cái chết của ông có lẽ xảy ra vào khoảng năm 3.200 trước Công nguyên.

Thân thế của xác ướp
Khi được phát hiện, xác của Otzi rất hoàn hảo và nguyên vẹn, kể cả quần áo và vật dụng. Chính vì vậy, một cuộc tranh cãi lớn đã nổ ra giữa các nhà khoa học về thân thế của Otzi: liệu anh ta chỉ là một người chăn cừu bình thường hay là một pháp sư?
Mũ làm từ lông gấu và giày cỏ

Giả thuyết đầu tiên cho rằng, Otzi mang theo mình những công cụ đi săn như cung tên, mũi tên… nên chắc hẳn đây chỉ là một người chăn cừu bình thường. Các cuộc khám nghiệm chi tiết xác chết cho thấy Otzi là công dân của vùng Vinschgau phía Nam dãy Alps. Người ta cũng tìm thấy thêm một chiếc rìu đồng với tay cầm thủy tùng, túi đựng tên bằng da, đá mài, túi đựng thú săn và một vỏ kiếm.

Phấn hoa tìm thấy đã xác định ông chết vào đầu mùa thu, đó cũng phù hợp với dữ liệu thu thập được từ những di tích quần áo của Otzi. Áo choàng, xà cạp, giày được làm bằng da dê và mũ của Otzi làm từ lông gấu cùng một đôi giày cỏ. Điều này chứng tỏ có thể Otzi đã tử vong do một cơn bão đầu mùa đông trong lúc đi săn.

Công cụ tìm thấy của Otzi

Tuy nhiên, một giả thuyết khác lại cho rằng Otzi đã tìm đường lên đỉnh núi để liên lạc với các thế lực tâm linh vì ngoài các công cụ đi săn tìm được, các nhà khoa học còn tìm thấy các viên bi màu trắng và các tua da xoắn. Hơn nữa, trên xác ướp còn có một số hình xăm dẫn đến việc Otzi bị nghi ngờ có thể là một pháp sư. Vào thời xưa, những người giữ các viên đá trắng thường mang những năng lực liên kết với thế giới tâm linh. Tuy rằng giả thiết này khó đứng vững hơn, nó vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ về thân thế Otzi, và về lời nguyền kinh hoàng xác ướp này mang lại.

Lời nguyền Otzi
Sau khi xác ướp Otzi được khai quật, nó đã mang lại cái chết cho 7 người có liên quan. Đầu tiên là Rainer Henn, 64 tuổi, nhà nghiên cứu bệnh học pháp y đại học Innsbruck. Ông đã chết trong một tai nạn xe hơi khi đang trên đường đến một cuộc họp về công việc nghiên cứu của mình. Tiếp theo là Kurt Fritz, 52 tuổi, hướng dẫn viên trên núi, người được cho là đã phát hiện ra khuôn mặt Otzi lần đầu tiên, bị chết trong một trận tuyết lở. Sau đó là Rainer Holz, 47 tuổi, người đã làm một phim tài liệu về việc khai quật Ötzi đã qua đời vì một khối u não.
Một trong 2 nhà leo núi phát hiện xác ướp Otzi đã tử vong

Những nạn nhân tiếp theo lần lượt là Helmut Simon, 69 tuổi, nổi tiếng là cha đẻ của Otzi vì ông là một trong 2 nhà leo núi đã tìm thấy xác ướp. Ông chết do bị ngã thác. Tiếp đến là Dieter Warnecke, 45 tuổi, người đứng đầu đội cứu hộ đã tìm kiếm cơ thể của Simon, cũng qua đời vì đau tim ngay sau khi tang lễ của Simon. Chưa dừng lại ở đó, người tử vong tiếp theo là Konrad Spindler, 66 tuổi, lãnh đạo của một nhóm nhà khoa học đã kiểm tra xác Otzi tại Innsbruck, Áo. Cuối cùng là ông Tom Loy, 63 tuổi, nhà khảo cổ học phân tử, người đã có nhứng khám phá đáng chú ý về quần áo và vũ khí của Ötzi, chết vì một căn bệnh máu di truyền. Lần lượt những người liên quan tới Otzi đều ra đi nhanh chóng không một lời giải đáp.

Hiện nay, xác ướp Otzi đang được bảo quản tại Bảo tàng South Tyrol. Các nhà khoa học hy vọng sẽ lấy được mẫu DNA của Otzi để tìm ra những “họ hàng” thời hiện đại của xác ướp trong băng bí ẩn này.

Theo ANTĐ
Xem thêm

Máy bay Mỹ biến mất bí ẩn sau khi cất cánh giống MH370

Một chiếc máy bay chở khách mang số hiệu Cirrus SR-22 đang trong hành trình từ Oklahoma City đến Texas đã biến mất ngay sau khi cất cánh, Daily Star ngày 4/1 đưa tin.

Chiếc máy bay đã bị mất tích sau khi rời khỏi sân bay Wiley Post. Các quan chức Cảnh sát biển Mỹ hiện đang tìm kiếm chiếc máy bay ở Vịnh Mexico sau khi báo cáo tai nạn do phi công không có tín hiệu.

Theo DailyStar, mặc dù đã có tín hiệu cảnh báo, nhưng phi công không phản hồi và vẫn tiếp tục lao về hướng bờ biển.

Cảnh sát biển Mỹ cho biết trong một tuyên bố: "Chúng tôi sẽ điều một máy bay để tìm kiếm các vùng biển ngoài Freeport, Texas".
Hiện vẫn chưa biết có bao nhiêu người trên máy bay này.

Sự biến mất của nó khiến nhiều người liên tưởng đến vụ máy bay MH370 của hãng hàng không Malaysia Airlines bị mất tích tháng 3/2014 khiến cho thế giới bị sốc.

MH 370 biến mất mà không có dấu vết trên Ấn Độ Dương, hầu hết các lý thuyết đều cho thấy chiếc máy bay này đã "bay ma" khi nó rơi, có nghĩa là phi công và hành khách đã chết hoặc mất năng lực.

Trong khi đó, một công ty thăm dò đại dương Mỹ đã triển khai một chiếc tàu để tái tục cuộc tìm kiếm chiếc máy bay MH370. Chiếc máy bay đã bất thần đổi hướng trên không phận Biển Đông, mọi liên lạc vô tuyến bị cắt đứt, khiến vụ mất tích trở thành một trong những bí ẩn lớn nhất trong lịch sử hàng không hiện đại.

Lần cuối cùng máy radar còn nhận được tín hiệu từ chiếc máy bay là lúc máy bay đang ở gần điểm cực bắc đảo Sumatra của Indonesia.

Dựa trên thông tin từ một vệ tinh liên lạc thì chiếc máy bay có thể rơi xuống một vùng biển cách nước Úc khoảng 1,500km về hướng Tây.

Công ty thăm dò đại dương Ocean Infinity hôm 3/1 cho hay một trong những chiếc tàu của họ đang trực chỉ khu vực tìm kiếm, và dự kiến chính phủ Malaysia sẽ trao hợp đồng cho công ty để tái tục cuộc tìm kiếm chiếc máy bay mất tích trong những ngày sắp tới.

Theo Dân Việt
Xem thêm

Mỹ nữ phóng đãng, tàn độc trở thành hoàng hậu quyền lực bậc nhất

Nhờ cơ duyên và sự sắc sảo, một vũ nữ từng làm trong nhà chứa trở thành một hoàng hậu đầy quyền lực, giúp chồng chèo lái Đế chế Byzantine (Đông La Mã) đến giai đoạn hưng thịnh nhất.

Theo Ancient Origins, người ta thường nói “đứng sau mỗi người đàn ông vĩ đại là một người phụ nữ còn vĩ đại hơn”. Justinian I là một trong những hoàng đế vĩ đại nhất của Đế chế Byzantine.
Ảnh minh họa hoàng hậu Theodora.

Trong quãng thời gian trị vì, Justinian I đưa Đế chế Byzatine trở lại thời kỳ huy hoàng, chiếm được hai vùng đất Italia và Bắc Phi, vùng đất từng thuộc về Đế quốc Tây Roman hùng mạnh. Justinian I cũng đề ra những cải cách mang tính đột phá. Đứng sau một Hoàng đế như Justinian là một người phụ nữ vĩ đại không kém, Hoàng hậu Theodora.

Xuất thân nghèo hèn

Theodora là sinh ra trong gia đình nghèo hèn dưới sự thống trị của Đế chế Byzantine vào thế kỷ thứ 5. Gia đình Theodora có 3 chị em, cha là một người huấn luyện gấu ở đấu trường và mẹ là một vũ nữ chuyên múa hát mua vui trong các quán rượu.

Tuy tuổi thơ khốn khó, nhưng Theodora càng lớn càng trở nên xinh đẹp, có thể nói là xinh đẹp nhất nhà với mái tóc màu nâu đỏ, làn da ngăm khỏe khoắn, đôi mắt đen láy và đôi môi vô cùng gợi cảm.

Đến tuổi trưởng thành, Theodora được mẹ đồng ý cho nối nghiệp làm vũ nữ để phụ kiếm tiền trang trải cuộc sống.

Bằng nhan sắc trời phú cùng những kỹ năng nhảy múa điêu luyện, Theodora nhanh chóng hòa nhập nghề thấp kém nhất trong xã hội khi đó, dùng thân thể của mình để mua vui cho biết bao nhiêu đàn ông ở các quán rượu.

Biến cố trong cuộc đời Theodora xảy đến khi lần lượt cha mẹ đều qua đời vì bạo bệnh. Ba chị em cũng vì vậy mà sống ly tán. Theodora vì quá cô đơn và chán nản nên bắt đầu cuộc sống buông thả trong một nhà chứa, dùng thân xác mình để mưu sinh kiếm sống qua ngày.
Hoàng đế Byzantine Justinian I.

Ở tuổi 16. Theodora theo chân một quan chức Syria tên Hecebolus đến Libya, vì ông ta được bổ nhiệm làm thống đốc tỉnh này. 4 năm sau đó, cô quay trở về quê hương.

Theodora lúc đó cải sang Công giáo, bỏ nghề cũ và trở thành thợ đan len tại một căn nhà gần cung điện hoàng gia.

Lọt vào mắt xanh của Hoàng đế

Ở thời điểm đó. Hoàng đế Anastase của Đế quốc Byzantine vừa băng hà. Triều đình xuất hiện cuộc tranh ngôi vương đẫm máu, một bên gồm những triều thần ủng hộ Thái tử, một bên là những người ủng hộ chỉ huy trưởng ngự lâm quân Justin.

Justin chỉ là một lão già lẩm cẩm, nhưng được người cháu tên Justinian giúp đỡ. Nhờ đó mà phe Justin đánh bại Thái tử, lên ngôi vương vào năm 518. Dù mang danh là Hoàng đế, nhưng Justin thực chất đã giao hết quyền lực cho cháu trai Justinian.

Justinian lại là một trong những người đam mê nhan sắc của cô nàng vũ nữ lúc bấy giờ. Khi có quyền lực trong tay, Justinian liền khao khát có được Theodora hơn bao giờ hết.

Sử gia Procopius từng viết: "Theodora là mối tình mê khoái nhất của Justinian. Nàng đòi hỏi ân huệ gì, hoặc món vàng bạc châu báu nào, ông sung sướng cho nàng đầy đủ như nàng mong ước".

Chưa dừng lại ở đó, thậm chí Justinian còn muốn chính thức cưới Theodora về làm vợ. Nhưng ngặt nỗi, luật lệ lúc bấy giờ có cấm những vũ nữ, gái điếm hèn kém không được phép kết hôn với giới quý tộc, hoàng tộc. Không chấp nhận điều này, Justinian đã dùng tầm ảnh hưởng của mình để thay đổi luật pháp.
Theodora nổi tiếng là hoàng hậu xinh đẹp tuyệt trần.

Ngày 1/4/527, Hoàng đế Justin thoái vị, Justinian trở thành vị vua mới của La Mã và Theodora hiển nhiên trở thành hoàng hậu của Đế chế Byzantine. Lần đầu tiên và cũng là duy nhất trong lịch sử, có một vũ nữ bước lên ngôi vị cao quý bậc nhất.

Bước lên đỉnh cao quyền lực

Dù bước lên đỉnh cao quyền lực đối với một phụ nữ, nhưng quá khứ phóng đãng làm vũ nữ mua vui của Theodora không dễ gì xóa bỏ. Những người phản đối cho rằng đây là một sự sỉ nhục.

Phe phản đối tập hợp lực lượng hùng hậu, tạo nên cuộc đảo chính mang tên Nika ngay tại thủ đô Constantinople của Đế chế Byzantine. Cuộc đảo chính quy mô khiến một nửa thành phố bị thiêu rụi và hàng chục ngàn người bỏ mạng.

Bất ổn ngay ở thủ đô khiến Hoàng đế Justinian lo lắng. Ở thời điểm đó, Byzantine đang căng sức phải đàm phán với Đế chế Ba Tư ở phía đông.

Trong cơn cùng quẫn, Justinian tán thành giải pháp lưu vong. Ông truyền lệnh vận chuyển tất cả các kho vàng bạc châu báu trong cung điện xuống tàu đậu ở ngoài khơi.

Hoàng đế Byzantine không dám cho Theodora biết quyết định này mà đợi đến phút chót mới đưa Theodora đi.

Khi đó, Theodora hết sức giận dữ và tuyên bố sẽ không rời thủ đô, dù chỉ nửa bước. "Không! Một ngàn lần không! Ta không tán thành kế hoạch chủ bại và rút lui hèn nhát như thế! Ta không thoái vị, và quyết bảo vệ ngôi Hoàng hậu của ta!".

Hoàng hậu Theodora sau đó ra lệnh chuyển ngược lại mọi thứ trên tàu về cung điện. Vì thấy chồng không còn năng lực giải quyết cuộc khủng hoảng nên một mình bà ra tay.
Phác họa hình ảnh Hoàng hậu Theodora.

Lợi dụng cơ hội hai phe chống đối bất hòa, Theodora chia rẽ rồi dùng tiền mua chuộc. Bà nghĩ ra âm mưu thâm hiểm khi lôi kéo phe nổi loạn đến quảng trường lớn rồi ra lệnh thẳng tay tàn sát 30.000 người, chấm dứt cuộc nổi dậy chỉ sau một tuần.

Có thể nói, Justinian ngồi vững trên ngai nhờ sự quyết đoán của Theodora. Sau cuộc nổi dậy, Justinian và Theodora đã xây dựng và cải cách, biến Constantinople trở thành kinh đô lộng lẫy trong hàng trăm năm.

Theodora còn tham gia cải cách pháp luật trong việc gia tăng quyền của phụ nữ. Bà đã thông qua luật cấm ép buộc bán dâm tại các nhà thổ khép kín hay ban thêm quyền cho phụ nữ khi ly hôn và quyền sở hữu tài sản. Bà lập án tử hình cho tội hiếp dâm, cấm việc giết hại những người vợ ngoại tình. Nhiều tu viện được mở ra để cưu mang những gái mại dâm hoàn lương.

Ngày 28/6/548, Theodora qua đời ở tuổi 48 vì căn bệnh ung thư. Sử sách chép lại rằng Justinian đã khóc hết nước mắt trong lễ tang hoàng hậu.

Ngày nay, các sử gia vẫn tranh cãi khi đánh giá con người Theodora. Bà bị coi là người dâm đãng và tàn độc nhưng cũng là nhân vật lịch sử vĩ đại.

Theodora được mệnh danh là một trong số những người phụ nữ quyền lực nhất trong lịch sử thế giới khi gián tiếp đưa Đế chế Byzantine hưng thịnh và tham gia vào quá trình thúc đẩy sự bình đẳng giới, đem lại quyền lợi cho phụ nữ.

Theo Dân Việt
Xem thêm

Bí ẩn về nền văn minh Maya

Nền văn minh Maya là nền văn minh cổ đại ở châu Mỹ từng có thời kỳ huy hoàng, nhưng sau đó suy tàn vì những nguyên nhân còn nhiều tranh cãi.
Kim tự tháp cổ Phetan do người Maya xây dựng.

Nền văn minh Maya được xây dựng bởi những người Maya, bộ tộc thổ dân châu Mỹ 2000 năm trước đây sinh sống ở bán đảo Yucatán của Trung Mỹ.

Người Maya có nguồn gốc từ vùng Mesoamerica (Trung Mỹ ngày nay). Khu vực này nằm giữa Mexico và Nam Mỹ, là quê hương của nhiều nền văn hóa của thổ dân da đỏ, bao gồm Aztec, Olmec, Teotihuacan và Toltec. Nơi người Maya sinh sống, ngày nay là Guatemala, Belize, Honduras, El Salvador và miền nam Mexico.

Người Maya xưa đã đạt đến trình độ cao không chỉ về mặt xây dựng nhà nước mà còn phát triển rực rỡ các lĩnh vực kiến trúc, toán học, thiên văn học và làm lịch.

Năm 1935, các nhà khảo cổ học đã phát hiện một phiến đá điêu khắc có nhân vật giống người đang phóng xe gắn máy. Tuy nhiên, chiếc xe đó trông giống như tên lửa với phần đuôi có luồng lửa phun ra. Các nhà khoa học trên thế giới đều công nhận đây là hình ảnh một phi hành gia đang lái một phương tiện bay của người Maya.

Căn cứ vào các di vật Maya tìm được khá phong phú, người ta xác định rằng, các quốc gia cổ đại của người Maya đã được thành lập vào khoảng thế kỷ thứ I.

Có những bí ẩn về nền văn minh Maya chưa được giải thích. Ví dụ, dù xung quanh đều có sẵn nguồn nước thiên nhiên nhưng họ vẫn xây dựng những hồ chứa nước khổng lồ trong thành phố. Khoảng sau năm 600 trước Công nguyên, dường như họ không để lại thêm những công trình nào nữa. Hơn thế, họ đột nhiên rời bỏ thành phố kiên cố, bỏ lại những di sản văn hóa quý giá. Từ đó, nền văn minh Maya dần suy tàn.

Phần lớn các quốc gia của người Maya bị diệt vong do nhiều lý do vào khoảng thế kỷ thứ IX và X. Duy chỉ có quốc gia thành thị trên bán đảo Yucatán, thuộc Mexico tiếp tục tồn tại cho đến khi thực dân Tây Ban Nha xâm lược vùng này vào thế kỷ XVI. Suốt thời kỳ xâm lược của người Tây Ban Nha, người Maya bị tước hết đất đai, đẩy vào tình trạng nghèo đói và trở thành nô lệ. Cuộc xâm chiếm này đã tàn phá rất nhiều di sản của người Maya.

Ngày nay, chưa có kết luận khoa học nào thực sự chắc chắn về nguyên nhân sụp đổ của nền văn minh Maya. Sự suy tàn có thể do: dân số quá tải, cuộc xâm lược của nước ngoài, nông dân nổi dậy, sự suy thoái của những tuyến đường thương mại chính yếu, hạn hán...

Sự sụp đổ của nền văn minh Maya cổ đại luôn là đề tài tìm hiểu của nhiều nhà khoa học. Nhóm các chuyên gia thuộc trường Đại học bang Louisiana (Mỹ) cho rằng họ đã tiến gần hơn đến lời giải của bí ẩn này nhờ vào những bằng chứng thu thập được tại hố sụt Great Blue.

Hố sụt Great Blue là một hố nước ngầm khổng lồ dưới biển, cách bờ biển Belize khoảng 70km và nằm gần trung tâm đảo san hô Lighthouse. Hố sâu 124m, đường kính rộng khoảng 300m, được hình thành trong những năm cuối của Kỷ Băng hà. Với việc phân tích những mẫu trầm tích thu được tại hố Great Blue, cụ thể là tìm hiểu màu sắc, kích thước, độ dày của lớp đất đá rồi so sánh với mẫu đá ở khu vực gắn liền với đất liền, các nhà nghiên cứu đã phát hiện sự khác biệt trong tỷ lệ titan với nhôm. Điều này giúp họ ước tính được lượng mưa ở khu vực này.

Phân tích kỹ hơn, các nhà nghiên cứu nhận thấy lượng mưa thấp đã gây ra một đợt hạn hán lớn vào khoảng từ năm 1000 - 1100. Chính bởi lượng mưa giảm dần và thời tiết trở nên hanh khô hơn (khoảng năm 660), các nguồn tài nguyên trở nên cạn kiệt. Từ đó, những bất ổn chính trị đã xuất hiện và nổ ra chiến tranh khiến đế chế Maya dần suy tàn. Sau nhiều năm chống chọi với khó khăn, đợt hạn hán kéo dài gần một thế kỷ (từ năm 1000 tới năm 1100) đã đặt dấu chấm hết cho nền văn minh Maya cổ đại.

Tiến sĩ André Droxler, tác giả của nghiên cứu cho biết: "Khi một trận hạn hán lớn xảy ra, nó sẽ kéo theo nhiều hệ luỵ như nạn đói hay tình trạng bất ổn. Phát hiện này đã giúp chúng tôi hiểu hơn về việc thay đổi khí hậu ảnh hưởng thế nào đến sự sụp đổ của nền văn minh Maya".

Tuy vậy, hãy còn một vương quốc Maya độc lập cho tới tận năm 1697 là thành phố đảo Tayasal. Một số giáo sĩ Tây Ban Nha vẫn đến đây và giảng đạo cho vị vua Itza cuối cùng. Vương quốc Itza rơi vào ách thống trị của Tây Ban Nha từ tháng 3/1697.

Suốt 2 thế kỷ nay nhiều thế hệ các nhà khoa học lừng danh kiên trì đi sâu nghiên cứu, những quan điểm cũ đánh giá về người Maya được xem xét lại, dưới ánh sáng của các luận cứ mới chưa có giới hạn…

Các chuyên gia đa phần đều cho là người Maya cổ đại đã di cư qua Tân thế giới bằng con đường phía Bắc qua eo biển Bering băng giá. Có lúc dân số của họ lên tới 2 triệu người trải dài dọc các vùng lãnh thổ thuộc Guatemala, Nam Mexico, Honduras và El Salvador ngày nay.

Bây giờ con cháu của người Maya sống ở Trung Mỹ tuy nói tới 20 thổ ngữ khác nhau, nhưng đều có xuất xứ căn bản từ thứ tiếng Maya cổ.

Khoảng năm 1500 Tr.CN họ bắt đầu tạo dựng những trung tâm địa lý được bao quanh bởi hệ thống làng mạc. Các trung tâm hành chính này phát triển rực rỡ, biến thành những khu đô thị hoành tráng với các thánh đường, lăng tẩm và cung điện nguy nga. Nền văn minh Maya cực thịnh trong thời kỳ từ năm 250 - 900.

Chữ viết của họ là dạng văn tự duy nhất tồn tại với cả 2 phần thuộc Mỹ châu trong giai đoạn tương ứng, đồng thời họ cũng đạt được những tiến bộ khó tin cả trong toán học lẫn thiên văn học. Họ có cách tính lịch thậm chí còn chính xác hơn cả thứ lịch mà chúng ta đang dùng.
Hình minh họa bộ lịch Tzolk'in của người Maya. Ảnh: yucatanadventure.

Qua đó họ tính được chu kỳ của các hành tinh quay quanh hệ mặt trời, báo trước được các kỳ nhật thực và nguyệt thực một cách chính xác tuyệt đối. Họ chỉ nuôi chó, gà tây, vịt và ong, trồng ngô, đậu và bí đỏ.

Tuy không nuôi động vật làm sức kéo cũng như biết tới bánh xe, nhưng họ vẫn giải quyết được việc chuyên chở các khối đá lớn dùng cho những kiến trúc khổng lồ của mình. Không tồn tại đồ sắt nhưng chúng được thay bằng đá nhọn, tro núi, xương và gỗ để tạo dáng và xây nhiều công trình xã hội lớn.

Trên các quảng trường trung tâm hoàn toàn vuông thành sắc cạnh. Dựa theo các đường nét rối rắm của chữ tượng hình, là các hình tượng kỳ thú tô điểm thêm cho vẻ đẹp toàn cảnh. Một vài chốn công cộng này có diện tích như là một trong những quảng trường rộng nhất thế giới. Ví như quảng trường ở Yaxchilan (Mexico) có chiều dài tới 300m, còn quảng trường tại Copán (Honduras) là 240m.

Những tác phẩm nghệ thuật của người Maya cổ đại luôn gây ra nhiều điều gây sửng sốt cho giới khoa học tân kỳ. Ngay cả nền văn hóa của họ cũng vậy, cho tới nay khoa học mới chỉ giải mã được chừng 85% thứ chữ tượng hình Maya.

Bản thân sắc dân bí ẩn này đã làm ra những tác phẩm khắc nét về họ từ năm 1100-800 Tr.CN. Có cả thảy 19 đời vua Maya, trong đó có 2 phụ nữ đã thay nhau trị vì Thành phố - Vương quốc Palenque: từ Vua K'yk' Bahlam I (năm 397) đến Vua Kimi Pakal III (năm 799).

Nhưng vị vua hùng mạnh nhất trong thời kỳ phát triển vàng son nhất của người Maya cổ chính là đức Vua Pakal I hay Pakal Đại đế (603-683), trị vì trong khoảng từ năm 615-683. Hầm mộ của ông đã được khoa học phát hiện ra dạo đầu thập niên 1950 thế kỷ trước tại Palenque (Mexico), còn chiếc nắp quan tài Pakal Đại đế bằng đá nguyên khối, với các đường nét khắc chạm tinh vi được coi là biểu tượng của nền văn minh Maya cổ.

Nhiều nhà nghiên cứu thời hiện đại gọi người Maya như là "sắc dân Hy Lạp cổ của Tân thế giới". Nhưng tới đầu thế kỷ X nền văn minh Maya đột nhiên bị ngừng lại. Các kỳ quan trở nên hiu quạnh, các quảng trường trống trải, các tụ điểm dân cư dần hoang phế… Chỉ có loài khỉ là thứ sinh vật duy nhất còn sống ở đó, trong khi rừng rậm cứ lấn dần các trung tâm văn hóa vốn cực thịnh một cách không thương tiếc… Vậy điều gì đã xảy ra?

Từng tồn tại rất nhiều giả thuyết khác nhau, nhưng chưa có cách lý giải nào xem ra thỏa đáng nhất. Một vài nhà khoa học cho đó là nguyên nhân của các cuộc chiến tranh, dù rằng người Maya là một sắc dân yêu hòa bình không hiếu chiến như người Aztec láng giềng ở Trung Mỹ. Số khác lại lý giải qua nền nông nghiệp với hình thức đốt rừng làm thổ nhưỡng phai bạc, khô cằn không thể sinh sống tiếp được trên những vùng đất ấy.

Nhưng cho tới tận ngày nay, giới hậu duệ của sắc dân Maya cổ đại vẫn tiếp tục lối sống đốt nương làm rẫy đó thôi. Vả lại, theo những tài liệu nghiên cứu mới nhất, thì người Maya cổ rất có tài trong việc chinh phục đất đai như hoàn thiện hệ thống đê điều, chủ động trong việc tưới tiêu phục hồi chất đất canh tác…

Nhiều học giả khác lại cho rằng đã bùng lên một bệnh dịch kinh hoàng, khiến dân Maya tử vong hàng loạt. Nhưng lịch sử đã chứng minh rằng, các dịch bệnh nguy hiểm nhất mãi 6 thế kỷ sau mới bị lây lan bởi người da trắng mang qua Tân thế giới.

Cũng có thêm giả thuyết về những cuộc khởi nghĩa đối kháng đẳng cấp của tầng lớp dân nghèo chống lại giới vua quan, nhưng kết cục vẫn phải có một phe thắng cuộc trong trận chiến đó. Nhưng xem ra hoàn toàn không phải vậy… Cũng có thể do một đại họa thiên tai nào đó mà cho tới nay người ta vẫn chưa lý giải được.
Xem thêm
Loading...