Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Những ngôi chùa nổi tiếng nhất ở Vũng Tàu

Đến Thích Ca Phật Đài để tìm hiểu cuộc đời của Đức Phật hay qua Linh Sơn cổ tự thưởng lãm tượng Phật hơn 1.600 năm tuổi là lựa chọn lý tưởng cho bạn trên đường hành hương. 

Hội tụ nhiều ngôi chùa cổ kính nên Vũng Tàu thường được coi là nơi thích hợp cho mùa du xuân. Du khách vừa được thắp hương bái Phật vừa được thưỡng lãm cảnh sắc thanh tịnh. Dưới đây là một số gợi ý điểm đến ở Vũng Tàu.


Thích Ca Phật Đài

Đây là một quần thể kiến trúc Phật giáo lớn, điểm tham quan du lịch tâm linh nổi tiếng ở thành phố biển Vũng Tàu. Thích Ca Phật Đài nằm trên sườn của Núi Lớn, nổi bật với bức tượng Thích Ca Mâu Ni tọa thiền trên lưng chừng núi. Đứng từ rất xa, du khách cũng có thể chiêm ngưỡng bức tượng.
Xem thêm

Kinh nghiệm hữu ích khi du lịch lễ hội chùa Hương

Nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, chùa Hương là một điểm du lịch tâm linh hấp dẫn, đặc biệt là những dịp đầu Xuân năm mới, lễ chùa du xuân luôn là một hoạt động được ưa chuộng và một nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt.


Hành trình đến với chùa Hương không chỉ là hành trình về đất Phật, mà còn là dịp để thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên trù phú. Xin chia sẻ tới độc giả một số kinh nghiệm hữu ích cho chuyến du lịch lễ hội chùa Hương.
Xem thêm

Đầu xuân viếng 5 ngôi chùa cổ ở Sài Gòn

Viếng chùa ngày đầu năm là nét đẹp văn hóa tâm linh của người Việt trong Tết cổ truyền. Cũng như các miền khác, chùa Sài Gòn ngày đầu xuân luôn đông khách đến dâng hương, nhất là tại 5 ngôi chùa cổ nổi tiếng. 

Những ngày đầu năm, nhiều ngôi chùa trong thành phố nhất là những ngôi chùa cổ luôn tấp nập khách thập phương đến vãn cảnh chùa, khấn cầu bình an và sức khỏe cho gia đình.



Xem thêm

Chùa Kh'Leang ở Sóc Trăng

Khleang là một trong những ngôi chùa Khmer cổ nhất ở Sóc Trăng được xây dựng vào giữa thế kỷ 16.
Chùa Kh'Leang tọa lạc trên một khuôn viên rộng 3.825m2, được xây dựng từ năm 1533. Lúc đầu chỉ là ngôi chùa lợp lá sau nhiều lần trùng tu được xây cất bằng gạch ngói. Kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu cách đây hơn 80 năm.

Xem thêm

Đình Trung Lương (Đà Nẵng)

(ĐNO) - Đình Trung Lương toạ lạc tại phường Hoà Xuân, quận Cẩm Lệ (Đà Nẵng). Làng Trung Lương, được hình thành trên xứ đất tục gọi là xứ Cồn Soi  được tách ra từ làng chính Khuê Đông, là một làng mới được thành lập vào khoàng giữa thế kỷ XIX, với diện tích khoảng 200 ha.

Theo địa giới, làng Trung Lương phía bắc giáp ngã ba sông Hàn, tây giáp Khuê Trung, đông giáp sông Cổ Cò, nam giáp làng Lỗ Giáng. Dân làng sống bằng nghề nông và soi đánh bắt cá ven sông. Lúc bấy giờ, có 5 tộc đến đầu tiên khai canh lập làng là tộc Huỳnh Ngọc, tộc Trần Phước, tộc Nguyễn, tộc Lê và tộc Hồ Văn.

Sau khi làng Trung Lương được thành lập một thời gian, với dân số đông và đủ điều kiện vật chất, các vị cao niên đứng đầu các tộc đã khởi xướng việc xây dựng đình làng. Được sự hưởng ứng và đồng thuận của dân làng là lấy ngôi miếu thờ Thái Giám để xây dựng Đình làng với diện tích khoảng 1000m2, được xây dựng theo lối kiến trúc tam gian, tứ vị (3 gian, 4 mái), vật liệu là đá cục, vữa thì bằng vôi trộn với nhớt bồ lời, gổ gồm có gỗ liêm và gỗ mít, hai loại gỗ này dùng làm cột, xà, xiên, trính… mái được lợp ngói vẩy cá và ngói âm dương. Những người có công đóng góp tiền của xây dựng đình đều được ghi khắc vào bia, nhưng do chiến tranh văn bia ghi công đức đã bị thất lạc.

Trải qua thời gian chiến tranh và thiên tai, đình làng đã bị hư hại, xuống cấp, con cháu các tộc họ đã nhiều đời kế tục sửa sang, trùng tu, tôn tạo lại ngôi đình, lần trùng tu gần đây vào năm 1994.

Đình được xây tường gạch, mái lợp ngói âm dương. Phần kiến trúc trang trí bên ngoài, trên nóc đỉnh trang trí hình “lưỡng long triều nguyệt”, hai bên mái hiên trang trí hình hai con phụng chầu vào chữ “Trung Lương”. Trên mái hiên có xây lầu giả, với nóc lầu xây hình cuốn thư, hình nậm rượu, các góc có hình đầu rồng. Phía ngoài sân là bình phong xây kiểu cuốn thư, mặt trước trang trí hình kỳ lân, mặt sau là hình cá chép hoá rồng, trên hai góc cuốn thư có hình hai con kỳ lân.Cổng tam quan, với các trụ cổng xây theo khối trụ vuông. Dulichgo

Hằng năm, đình làng thường tổ chức hát bội, hát hò khoan,cùng các trò chơi dân gian như kéo co, nhảy bao bố, đập om đất, đá gà, đẩy gậy. Về phần lễ, có lễ thả Long chu thuyền, lễ xuống đồng, lễ dựng nêu ngày tết,dân làng đã lấy ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch làm ngày phụng cúng hằng năm, gọi là ngày lễ cầu an và xuống đồng.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đình Trung Lương là nơi tổ chức học tập chính trị, quân sự do Mặt trận Việt Minh- chính quyền cách mạng ở địa phương tổ chức. Thời ký kháng chiến chống Mỹ, đình Trung Lương, còn được dùng làm cơ sở chỉ huy các đơn vị bộ đội và dân quân du kích vận chuyển vũ khí, lương thực, đánh vào sân bay ĐÀ Nẵng năm 1964, đánh vào sân bay Nước Mặn năm 1968, đồng thời, là nơi che chở, nuôi giấu cán bộ, bộ đội, du kích của địa phương.

Đình Trung Lương hiện nay, do chủ trương qui hoạch của thành phố nên đã di dời đến khu mới, đình đặt tại xã Hoà Xuân, quận Cẩm Lệ với một ngôi đình  bề thế, khang trang nằm giữa các khu dân cư mới, các kiến trúc vẫn theo như lối kiến trúc cũ cũng như các di vật được bảo quản , lưu giữ đầy đủ.

Hiện nay đình làng còn có 19 sắc phong, niên đại từ Minh Mạng đến Khải Định, cụ thể:

1.Sắc cho thần thành Hoàng, ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 2
2. Sắc cho ngài Khâm sai Bắc quân Đô đốc , ngày 8 tháng 6 năm Duy Tân thứ 5
3. Sắc cho tứ vị thánh nương Đại càn quốc gia Nam hải, ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3
4.  Sắc cho ngài Cao Các Quảng Độ, ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3
5.  Sắc cho ngài Cao Các, ngày 01 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2
6.  Sắc cho tứ vị thánh nương Đại càn quốc gia Nam Hải, ngày 01 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2
7. Sắc cho tứ vị thánh nương Đại càn quốc gia Nam Hải, ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33
8. Sắc cho các ngài Cao Các, Phi vận Tướng quân, ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33
9. Sắc cho thần Bạch Mã, ngày 02 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5 Dulichgo

10. Sắc cho ngài Phi vận Tướng quân, ngày 25 tháng 9 năm Tự Đức thứ 3
11. Sắc cho nữ thần Thiên Y A Na, ngày 25 tháng 9 năm Tự Đức thứ 3
12. Sắc cho ngài Cao Các, ngày 25 tháng 9 năm Tự Đức thứ 3
13. Sắc cho ngài Cao Các ngày 26 tháng 12 năm Thiệu Trị  thứ 5
14. Sắc cho ngài Cao Các ngày 21 tháng 11 năm Thiệu Trị  thứ 3
15. Sắc cho ngài Phi vận Tướng quân, ngày 14 tháng 5 năm Thiệu Trị  thứ 3
16. Sắc cho ngài Phi vận Tướng quân, ngày 12 tháng 4 năm Thiệu Trị  thứ 3
17. Sắc cho nữ thần Thiên Y A Na, ngày 12 tháng 4 năm Thiệu Trị  thứ 3
18. Sắc cho nữ thần Thiên Y A Na, ngày 11 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 2
19. Sắc cho ngài Phi vận Tướng quân, ngày 11 tháng 2  năm Minh Mạng thứ 2

Đình Trung Lương - phường Hoà Xuân Quận Cẩm Lệ được công nhận di tích văn hoá cấp thành phố vào ngày 30/8/2006

Theo Danang.gov
Du lịch, GO!
Xem thêm

Những ngôi chùa nổi tiếng tại Bình Thuận

(BTA) - Trên địa bàn tỉnh Bình Thuận hàng trăm ngôi chùa được xây dựng trong nhiều thế kỷ nay, trong đó có nhiều ngôi chùa cổ nổi tiếng về nghệ thuật kiến trúc kết hợp với thiên nhiên tươi đẹp tạo nên thắng cảnh. Có những ngội chùa gần biển, gần sông, có chùa nằm cheo leo trên đỉnh núi hoặc khuất trong rừng rậm hay ở tận đảo xa v.v...

Nghệ thuật trang trí điêu khắc tại các chùa, nhất là ở các chùa cổ là một trong những vốn văn hóa Phật giáo được lưu giữ qua nhiều thế hệ thể hiện trên những pho tượng, các mảng phù điêu đến các bài vị, hoành phi, câu đối đến nay vẫn còn nguyên giá trị lịch sử. Có thể thấy một bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa và danh lam thắng cảnh ở Bình Thuận là những ngôi chùa.

1. CHÙA NÚI

Còn gọi là Chùa Tà Cú, xây dựng chính thức vào năm 1879 do nhà sư Trần Hữu Đức trụ trì, tọa lạc trên núi Tà Cú ở độ cao 475m (hiện nay thuộc địa phận xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam). Trước kia ngôi chùa chỉ là một thảo am nhỏ bằng gỗ, tranh, nứa. Mãi sau này, từ ngôi chùa cổ ban đầu tách thêm một ngôi chùa ở bên dưới gần đó. Để phân biệt, chùa trên có tên là Linh Sơn Trường Thọ, chùa dưới gọi là Linh Sơn Long Đoàn và dân gian gọi chung là Chùa Núi.

Năm 1872 nhà sư Trần Hữu Đức (1812 - 1887) pháp danh Thông âm, từ miền Trung vào, một mình vượt núi, xuyên rừng, lên đỉnh núi Tà Cú tìm nơi an tịnh để tu hành. Mãi 7 năm sau, những người đi rừng mới phát hiện ra hang đá nơi tu hành của nhà sư nên đã góp công dựng. Vừa tu hành vừa bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân được 16 năm thì nhà sư viên tịch. Từ đó nhà chùa lấy ngày 5 tháng 10 hàng năm làm ngày giỗ Tổ.

Lúc còn sống, nhà sư là thầy thuốc giỏi. Tương truyền vào năm Canh Thìn (1880), nhà sư đã cứu Hoàng thái hậu thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo bằng thuốc của mình. Vua Tự Đức đã ban sắc đặt tên chùa là "Linh Sơn Trường Thọ” và suy tôn nhà sư Trần Hữu Đức là "Đại lão Hòa thượng". Ngôi chùa dưới “Linh Sơn Long Đoàn" được xây dựng vào cuốn thế kỷ XIX theo ý nguyện của nhà sư trước lúc viên tịch.

Chùa Núi Tà Cú kết hợp, xen kẽ với núi rừng đã có tiếng là nơi thắng cảnh từ xưa. Từ dưới chân núi, leo lên hàng trăm tam cấp theo con đường ngoằn ngoèo giữa rừng già mới đến chùa. Ở đây không khí trong lành, hơi nước lạnh mát toát ra từ núi đá. Chùa Núi nổi tiếng nhờ ở phong cảnh hùng vĩ nên thơ của núi rừng; mặt khác, bàn tay con người qua nhiều thế hệ thay nhau bồi đấp nên những công trình kiến trúc nghệ thuật đồ sộ có một không hai. Đó là pho tượng khổng lồ "Thích Ca nhập niết bàn" nằm ở vị trí cao nhất cách chùa khoảng 100m. Dulichgo

Bằng tài nghệ, kỹ thuật điêu khắc và lòng sùng kính, các nghệ nhân đã tạo nên pho tượng hiếm có trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tác phẩm do kỹ sư Trương Đình Ý chủ trì thực hiện vào năm 1962. Tượng Phật Thích Ca trong tư thế nằm nghiêng, đầu gối lên tay phải, 2 chân duỗi thẳng, mặt quay về hướng tây nam, lưng dựa vào vách núi. Pho tượng dài 49m, cao 6m và nặng hàng trăm tấn. Với hàng chục ngàn kg vật liệu đúc tượng, hàng ngàn lượt người đã phải vượt 4 - 5 km đường núi hiểm trở với thời gian dài vận chuyển đủ để tạo nên tác phẩm điêu khắc nghệ thuật này.

Cách pho tượng chừng 50m là nhóm tam thể phật trong tư thế đứng: tượng A di đà, tượng Quan Âm bồ tát, tượng Đại thế chí. Cả 3 pho tượng có chiều cao khoảng 7m nét mặt hiền hòa đang nhìn bao quát thế gian.

Hằng năm vào bất cứ thời điểm nào, nhất là dịp xuân sang, hàng vạn người từ khấp nơi kéo đến chùa Núi viếng Phật, thưởng ngoạn cảnh non nước thiên nhiên.

Chùa Núi cùng với những cánh rừng bảo tồn thiên nhiên lân cận đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Danh lam thắng cảnh quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993.

2. CỔ THẠCH TỰ

Tục gọi là Chùa Hang được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835) do nhà sư Bửu Tạng sáng lập, tọa lạc trên vùng đồi núi đá lô nhô sát biển ở độ cao 64m thuộc xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong. Dưới chân đồi là biển Đông với nhiều ghềnh, đá núi, bãi cát, bãi đá màu tự nhiên kết hợp lại tạo thành nơi danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở phía Bắc Bình Thuận.

Vùng đồi núi Cổ Thạch có nhiều tảng đá lớn, chồng lên nhau chứa đựng những vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo, tạo nên nhiều hang động kỳ vĩ huyền bí. Chùa Cổ Thạch gồm một quần thể các công trình kiến trúc chính điện, nhà tổ, gác chuông, lầu trống, nhà thiền... phần lớn đều được bài trí trong các hang đá tự nhiên.

Việc chọn điểm lập am, dựng chùa của các vị thiền sư thật tuyệt diệu. Chính diện là một hang đá rất lớn do hai tảng đá chụm đầu vào nhau tạo thành hình mái nhà. Theo truyền thuyết, thời gian đầu đến đây, thiền sư Bửu Tạng đã tu luyện ở hang đá này.

Nhà thờ Tổ khai lập Bửu Tạng cũng như nhiều nhà sư có nhiều công đức cũng được dựng trong hang đá. Hang thờ phật Chuẩn Đề có pho tượng 18 tay và nhiều tượng cổ. Hang Tam Bảo thờ 23 pho tượng Phật cổ với kích thước và niên đại khác nhau.

Ngoài vẻ đẹp tự nhiên của hang động kết hợp với sự sáng tạo của con người, chùa Hang còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa quí. Đó là tượng Phật nhiều hình, nhiều dạng tạo nên từ nhiều chất liệu và niên đại khác nhau; một số hiện vật quý từ thuở khai lập chùa như đại hồng chung đúc năm Đinh Mùi (1847), chiếc trống sấm năm Mậu Thân (1848)...

Cái hay cái đẹp ở Chùa Hang là cả một quần thể hang động với kiến trúc rộng lớn nhiều vẻ, nhiều cảnh liên tiếp nối nhau chen chúc giữa đá và cây rừng nhấp nhô. Sự hài hòa giữa nghệ thuật hoa viên, kiến trúc điêu khắc phù hợp với cảnh tôn trí thờ phụng bên trong càng tăng thêm không khí yên tĩnh, tôn nghiêm. Sự yên bình ở đây giúp du khách trút bỏ những mệt mỏi tầm thường, quên đi những suy nghĩ đời thường để tâm hồn vươn tới cõi thiện.

Cổ Thạch Tự ngoài cảnh đẹp còn là địa danh gắn liền với hai cuộc kháng chiến vừa qua của dân tộc. Nhà chùa đã đóng góp nhiều công của cho cách mạng đến ngày thắng lợi.

Hiện nay Cổ Thạch Tự là một điểm du lịch chính ở Bình Thuận. Hàng chục vạn người từ khắp nơi đến đây mỗi năm để chiêm bái, lễ phật, tắm biển và thưởng thức đặc sản biển.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, Cổ Thạch Tự đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Danh lam thắng cảnh quốc gia ở QĐ số 120/QĐ-BT, ngày 1 1 tháng 9 năm 1993.

3. LINH QUANG TỰ

Là ngôi chùa cổ nhất ở đảo Phú Quý và cũng là một trong những ngôi chùa cổ ở Bình Thuận, tọa lạc trên ngọn đồi ở xã Tam Thanh. Theo gia phả của dòng họ nhà sư Nguyễn Cánh thì Linh Quang Tự được xây dựng vào năm 1747 đời vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8. Đến nay chùa đã có niên đại trên 250 năm. Dulichgo

Qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo, ngôi chùa được biến đổi dần về diện tích của các công trình kiến trúc và trang trí nghệ thuật. Đến cuối thế kỷ XVIII do sơ suất, chùa bị cháy và gần như toàn bộ di sản trong chùa bị thiêu hủy, chỉ còn lại hàng chục pho tượng cổ bằng đồng, đất nung. Sau đó chùa tiếp tục được xây lại trên nền cũ với tổng kiến trúc lạ, đẹp bao gồm: chính điện, nhà Tiền hiền, võ ca, có dạng hình chữ Đinh. Những phần chính thờ phụng ở chùa được sắp đặt theo qui cách "Tiền Phật hậu Tổ”.(1)

Lịch sử của quá trình xây dựng chùa Linh Quang bao gồm cả về mặt kiến trúc, tôn giáo và giá trị nghệ thuật của nền văn hóa biển trên đảo - gắn liền với quá trình định cư và phát triển của nhân dân trên đảo. Ở đây, vườn chùa đóng vai trò quan trọng đưa kiến trúc Phật giáo hòa nhập với thiên nhiên tạo cho ngôi chùa cổ nét gần gũi, thân quen mà không biệt lập. Từ trong những vòm cây dày bóng mát ấy nổi lên phần kiến trúc mái chùa với đầu đao, đuôi rắn vút cong thấp thoáng. Giữa biển khơi nhìn về đảo, ngôi chùa nổi lên như một tòa lâu đài cổ kính.

Linh Quang Tự còn lưu giữ nhiều văn tự cổ nói đến sự hình thành dân cư trên đảo, là nơi bảo tồn nhiều di sản văn hóa, sưu tập các pho tượng cổ quý. Có chăng pho tượng cổ, lớn gắn liền với những huyền thoại trên đảo trong các thế kỷ trước. Chiếc đại hồng chung ở chùa là quà tặng của chùa Trà Bang (Ninh Thuận), có niên đại ở cuối thế kỷ XVIII. Trong số những cổ tự lưu giữ ở chùa còn có 5 bức sắc của triều Nguyễn ban tặng. Hàng năm khi có những nghi lễ trọng đại, nhà chùa làm lễ thỉnh sắc mới đưa xuống.

Cảnh Linh Quang Tự đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Thắng cảnh quốc gia theo Quyết định số 51/QĐ-BT ngày 12 tháng 1 năm 1996.

4. LINH SƠN TỰ

Thiết lập vào những năm đầu của thế kỷ XIX trong khu rừng già thuộc xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong ngày nay.

Sự tích ra đời của ngôi chùa được lưu truyền trong dân gian: đầu thế kỷ XIX một nhà sư từ miền Trung vào, không biết vì lý do gì đã ẩn vào một hang đá trong rừng. Dân làng đi rừng phát hiện được tiếng tụng kinh ở hang đá vọng ra. Biết mình bị lộ, nhà sư bỏ hang đá ra đi để lại một tấm bản đồ chỉ dẫn vị trí xây cất ngôi chùa sau này. Theo đó dân làng đã chuyển vật liệu lên xây chùa. Vị trí xây dựng chùa thật lý tưởng: cảnh núi rừng âm u, yên tĩnh tạo nên sự thanh tịnh của giới tu hành. Xung quanh các đỉnh núi tạo nên tả thanh long, hữu bạch hổ, nhiều hang đá tự nhiên hình hàm ếch, hàm rồng, giếng rún rồng không bao giờ cạn nước, hang Tổ... Những hang động có sẵn của tự nhiên mà y như có sự sắp đặt của bàn tay con người.

Thời chống Pháp, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, dân làng đã dời tượng Phật vào giấu ở trong hang đá và phá dỡ chùa; mãi đến năm 1986 - 1987, mới có điều kiện xây dựng lại ngôi chùa trên nền xưa. Trước đó vài năm, nhà sư già Phạm Hành đào đất trồng chuối cạnh tảng đá "Voi phục" trước chùa, lỡi cuốc đụng phải một chiếc ấn đúc bằng đồng màu đen, nặng 650gram, ấn có hình chữ nhật, chiều dài 9,8cm, rộng 6,5cm bên trên có núm tròn để cầm.

Phía lưng ấn có 15 chữ Hán khắc chìm chia thành 2 dòng hai bên núm ấn. Dòng bên phải khắc 10 chữ với nội dung: "Trung nghĩa vệ, Trung thắng tứ hiệu quán quân sứ". Dòng bên trái khắc 5 chữ: "Tân Hợi niên đông tạo". Dưới mặt ấn có 10 chữ khắc theo lối chữ triện; hai dòng hai bên, mỗi bên 3 chữ và dòng ở giữa 4 chữ. 10 chữ trên mặt ấn trùng với 10 chữ trên lưng ấn. Về niên đại với 5 chữ: "Tân Hợi niên đông tạo" có thể biết chiếc ấn làm vào năm Quang Trung thứ tư (1791) (Ở Bảo tàng lịch sử Hà Nội hiện lưu giữ 2 quả ấn tương tự như chiến ấn Quang Trung tìm thấy ở Linh Sơn Tự. Chiếc thứ nhất đúc năm Quang Trung thứ tư với 9 chữ Hán "Suất cùng cư quan hệ ngũ hiệu đô ty”.).
Linh Sơn tự còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị như chuông đồng, tượng nhà sư Bửu Tạng, tượng Địa tạng v.v...

Mặc cho đường sá xa xôi, nhưng hàng ngày vẫn có nhiều đoàn khách từ các nơi đến chiêm ngưỡng cảnh núi rừng, ngắm cảnh chùa và tận hưởng không khí mát mẻ trong lành của Linh Sơn Tự.

5. CHÙA ÔNG

Là ngôi chùa cổ có qui mô lớn nhất của người Hoa ở Bình Thuận, tọa lạc tại phường Đức Nghĩa, thị xã Phan Thiết hiện nay. Theo Thần phả của chùa và niên đại khắc ghi bằng dòng chữ Hán trên thanh xà gồ nóc chính điện được biết: chùa lập vào tháng 11 năm Canh Dần 1770.

Tổng thể kiến trúc ở đây từ ngày khởi tạo là một ngôi miếu lớn của người Hoa xây dựng để thờ Quan Công (Quan Thánh đế quân). Sách "Đại Nam nhất thống chí" tập 12 gọi là "Đền Quan Công" đúng với tên lúc bấy giờ của miếu; và ngay trước cổng vào chùa hiện nay còn tấm biển ghi "Quan Thánh miếu”. Hơn nữa, nội dung thờ phụng bên trong chỉ có tượng Quan công cùng những tượng khác chứ không thờ Phật và không có các nhà s ưtrụ trì. Thế nhưng trong dân gian từ xưa đến nay cả người Việt và người Hoa đều quen gọi là Chùa Ông".

Nằm trên một diện tích khá lớn, chùa có lối kiến trúc và trang trí nghệ thuật đặc trưng của người Hoa, các dãy nhà nối tiếp nhau tạo nên hình chữ Kim. Hệ thống cột, vì kèo chạm khắc rất công phu, sắc nét phần nào giống kỹ thuật chạm khắc trong các ngôi đình của người Việt. Tất cả những cột trụ chính đều có treo câu đối chạm khắc và sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Nổi lên ở các gian thờ là những bức tranh chạm gỗ, gắn ở tường mà nội dung miêu tả các điển tích xưa của người Hoa, có niên đại ở thế kỷ XVIII. Nhiều bức hoành lớn được chuyển từ Trung Hoa qua ở thế kỷ XIX. Tượng Quan Công to lớn bằng gỗ đặt trang trọng ở gian thờ chính điện cùng hàng chục những pho tượng cổ khác. Hệ thống bao lam bao phủ quanh các khám thờ ở chùa là những tác phẩm điêu khắc bằng gỗ có giá trị về nghệ thuật mà ở các chùa chiền khác không thể có được.

Chùa Ông hiện nay còn lưu giữ chiếc chuông cổ có giá trị về lịch sử và nghệ thuật, đúc tại Quảng Đông (Trung Quốc) và chuyển sang từ triều đại nhà Thanh. Kiểu cách đúc và vật liệu giống đại hồng chung của người Việt nhưng trang trí phức tạp và rườm rà hơn trên thân chuông. Chùa Ông là một nơi sân vườn đẹp.

Trước năm 1975, ở Phan Thiết thường diễn ra lễ hội "Nghinh Ông" ở chùa Ông. Năm 1996 lễ hội này được tổ chức lại, thu hút hàng chục ngàn người từ khắp nơi. Từ bao đời nay, chùa Ông là nơi mà vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, nhân dân thường tụ tập đông đảo để cầu cho một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, làm ăn may mắn của mọi người, mọi nhà.

Chiếc thứ hai cùng loại với chiếc ấn và cùng có niên đại "'Tân Hợi niên đông tao”.

6. CHÙA PHẬT QUANG

Xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XVIII, tọa lạc ở thôn Minh Long nay là phường Hưng Long, thị xã Phan Thiết. Vị trí của ngôi chùa vào thời điểm xây dựng, dân cư thưa thớt, bao quanh là những đồi cát mênh mông chạy dài ra biển nên trong dân gian cũng có tên là chùa Cát.

Khuôn viên của chùa Phật Quang tương đối lớn, bên trong bao gồm một tổng thể kiến trúc, cổng tam quan, chùa Tổ, chánh điện và hệ thống các công trình phụ nối liền giữa chùa Tổ và chánh điện. Mặt chính của chùa quay về hướng Nam. Do xây dựng từ lâu đời nên chùa đã hư hỏng, xuống cấp và được tu bổ nhiều lần. Lần tu bổ gần nhất là vào năm Bảo Đại thứ 9 (Giáp Tuất 1934), đợt này tu bổ lại hoàn toàn chùa Tổ và một số hư hỏng của các hạng mục khác.

Điểm đặc biệt quan trọng trong ngôi chùa cổ này là các thế hệ thiền sư chùa đã thay nhau gìn giữ, bảo quản rất tốt nhiều bộ phận thuộc di sản văn hóa có giá trị. Đó là chiếc đại hồng chung lớn bằng đồng chạm khắc đẹp, tinh tế và 4 mặt chuông khắc địa danh, lịch sử chùa cũng như niên đại; chuông được đúc vào năm Canh Ngọ 1750 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Một số hiện vật khác là những bản khắc gỗ tạo nên bộ kinh Pháp hoa với 118 bản. Đa phần trong 118 bản khắc cả hai mặt bằng chữ Hán sắc nét bao gồm 60 vạn lời, trong đó có 7 bản khắc họa hình ảnh Đức Phật thuyết pháp. Bộ kinh Pháp hoa hoàn thành vào năm 1734 mà bản khắc cuối cùng có ghi rõ đã hoàn thành vào ngày mùng một tháng tư, năm Long Đức thứ ba vào Giáp Dần. (Long Đức là niên hiệu của vua Lê Thuần Tông (1732 - 1735) đời nhà Hậu Lê).

Bộ kinh do hai khất sỹ Ninh Dung và khất sỹ Thiết Huệ hiệu là Khánh Tài chủ trương xin phép khắc. Cũng trong bản khắc cuối cùng của bộ kinh ghi công của 6 người đứng ra quyên góp và cúng tiền, người đứng ra in, nhiều người cúng gạo cơm và đặc biệt ghi công của hai vị thiền sư cùng 12 phật tử khắc trong thời gian 28 năm mới hoàn thành bộ kinh này.

Trong số những ngôi chùa cổ ở Bình Thuận, chùa Phật Quang, ngoài kiến trúc và nội dung chứa đựng nhiều di sản văn hóa nói chung và văn hóa Phật giáo, còn có hoa viên đẹp.

Theo Địa chí Bình Thuận, ảnh internet
Du lịch, GO!
Xem thêm

Lên non tìm động Huyền Không

Nằm trong quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn, Huyền Không là một trong những động đẹp nhất, huyền ảo nhất, có giá trị tâm linh to lớn nhất. Động Huyền Không là một động lộ thiên, vòm hình tròn, nền bằng phẳng, trên vòm có 5 lỗ thông ra bên ngoài, ánh sáng tràn vào đây tạo một không khí huyền bí lung linh cho hang động.

Để vào được động Huyền Không phải bước xuống hơn 20 bậc cấp nằm sâu hơn động Hoa Nghiêm khoảng 5m, được ví động như chiếc chuông úp sấp, là một trong những động rộng, thoáng mát và đẹp nhất của quần thể Ngũ Hành Sơn, vòm động tiếp xúc với không gian bên ngoài, ánh sáng rọi vào làm động thêm lung linh huyền ảo. Ngày nắng, động được ví như chiếc điều hòa thiên nhiên bởi không khí mát mẻ, trong lành.

< Núi Thủy Sơn lớn nhất, nơi có động Huyền Không.

Đây là điều làm nên sự khác biệt của động Huyền Không đối với một số hang động khác ở Hạ Long, Phong Nha - Kẻ Bàng…

Trong khi các nơi phần lớn là động kín, ẩm, trong động phải thắp điện hoặc khi vào phải có đèn chiếu sáng thì động Huyền Không tuy ít thạch nhũ nhưng đủ độ thoáng và ánh sáng tự nhiên.

< Đường vào động Huyền Không.

Trên cao nhất là tượng Phật Thích Ca, được làm vào năm 1960 bởi nghệ nhân Nguyễn Chất, người nổi tiếng ở làng đá mỹ nghệ Non Nước. Dulichgo

Bên dưới là bàn thờ Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát. Bên trái động có đền thờ bà Ngọc Phi (bà Chúa Tiên), là nơi du khách đến cầu tài, cầu lộc; đền thờ bà Lồi Phi (Chúa Thượng Ngàn) được du khách đến cầu nguyện về sức khỏe và sự bình an.

< Huyền Không quan.

Sâu bên phải là đền Trang Nghiêm Tự cổ kính được xây dựng năm 1825, gồm ba gian. Gian chính thờ Phật Quan Âm, bên trái thờ 3 vị Thánh (gồm Quan Công, Quan Bình và Châu Xương) tượng trưng cho đức độ, trí dũng và lòng trung thành. Đặc biệt, gian bên phải thờ Ông Tơ, Bà Nguyệt, nơi các đôi trai gái đến cầu duyên, mong được Nguyệt Lão buộc sợi chỉ hồng trăm năm hạnh phúc.

Quanh vòm động có nhiều nhiễu đá bám vào vách tạo nên những hình thù lạ, đó là khuôn mặt ông già nhìn nghiêng, là hình con chim hạc hay đà điểu, hình hai đầu voi với chiếc vòi thả xuống, là con cò cùng chiếc mỏ dài nhọn ép vào vách động…

< Cửa động mở ra huyền ảo.

Động không có nhiều thạch nhũ đẹp. Tuy nhiên trên vách vẫn thấy một vài hình thù lạ và hay hay. Một thạch nhủ tên Vú Mẹ trước đây nước nhiễu ẩm ướt, nhưng vì nhiều người rờ quá, nên nước bây giờ không còn ướt nhiều nữa. Dulichgo

Động Huyền Không đi qua cổng vòm có 3 chữ Huyền Không Quan, cửa hơi hẹp, động tối, những bậc đi xuống sâu, giữa cửa động có tượng hình ông Thiện và ông Ác, như nhắc nhở con người phải thánh thiện, từ bi khi đến cõi sắc không của Phật.

< Ánh sáng chiều từ vòm động qua 5 khoảng trống trên đỉnh.

Bên cạnh thế giới tâm linh, động Huyền Không còn có giá trị lịch sử to lớn. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, đây là căn cứ hoạt động bí mật của cán bộ lãnh đạo địa phương và du kích. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã biến động Huyền Không thành nơi huấn luyện biệt kích đồng thời cũng là nơi đồn trú của nhiều đơn vị Mỹ - Ngụy.

Năm 1968 quân giải phóng đã đánh chiếm nơi đây, đồng loạt tấn công nhiều căn cứ lân cận và sân bay quân sự Nước Mặn. Huyền Không trở thành trạm giải phẫu và nơi cất giấu thương binh của quân giải phóng, ghi dấu những trận đánh oai hùng của quân dân Quảng Nam Đà Nẵng, tiêu biểu là trận đánh của anh hùng Phan Hiệp (người con Hòa Quý) rạng sáng ngày 23-8-1968. Đại đội trưởng Phan Hiệp được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và đổi tên thành Phan Hành Sơn.

< Chùa cổ Tam Thai.

Vào trong hang có ánh sáng từ trên cao chiếu qua lỗ trống trên động, càng làm vẻ đẹp lung linh huyền bí, vòm Động cao nhủ thạch bám vào vách tạo nhiều nét đẹp thiên nhiên, và bàn tay con người tạo thêm nhiều hình đẹp như tượng Phật Quan Âm, được điêu khắc công phu trên bệ thờ. Dulichgo

Phía bên phải là ngôi chùa nhỏ Trang Nghiêm Tự, bên cạnh có thạch nhũ nhỏ nước tí tách, dưới nền có khối đá điêu khắc tượng của người Chàm, khung cảnh hư ảo trong hang động tạo cho du khách như sống với thế giới vừa hư vừa thật, lấy tay vỗ lên trên đá nghe như tiếng trống bình bịch.

< Động Vân Thông hình tròn như đường ống chếch lên phía ngọn núi.

Động Huyền Không trên bàn thờ có tượng Thiên-Y-A-na – Chúa Ngọc, ngày xưa người ta có tục lệ làm hai lễ đặc biệt được cử hành bằng đức tin là “cắt huyết gà để thề” những việc tranh cãi thề thốt không nói dối, trước những đấng siêu hình chứng giám xác quyết lời thề sự thật tuyệt đối, vĩnh viễn không nuốt lời thề, người ta lấy dao cắt cổ con gà trống cổ nhổ sạch lông và cái bát đựng huyết gà để thề, nếu ai nói sai sẽ chết như con gà.

Nhiều người đến chùa cầu xin Thiên ân “cầu tự” cho những đàn bà chưa có con. Sau đó họ vào động Huyền Không uống nước từ thạch nhũ, các tục lệ trên ngày nay không còn như xưa nữa.

Ngày nay Động Huyền không trở thành một điểm không thể không dừng chân cho những ai đến với Đà Nẵng, đến với Ngũ Hành Sơn. Khung cảnh nơi đây vừa hư vừa thực, một không gian  mơ màng huyền bí.

Theo Mytour.vn
Du lịch, GO!
Xem thêm

Chùa Đồng Thiện ở Hải Phòng

Chùa Đồng Thiện (tên chữ là Hải Ninh tự) nằm trên địa bàn phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Theo tục truyền và nội dung văn bia thì chùa Đồng Thiện được xây dựng vào những năm 30 do Hội đồng thiện đứng chủ hưng công.

Công việc thiện tâm này của Hội đồng thiện được sự hưởng ứng của đông đảo tín đồ, thiện nam, tín nữ trong nước. Hội đồng thiện tỉnh Bắc ninh đã quyên cúng cho việc làm tình nghĩa này cả một ngôi chùa khang trang, đẹp dẽ. Tên chùa Hải Ninh ra đời để ghi nhớ về sự kiện thiện tâm đó của Hội đồng thiện Hải Phòng và Hội đồng thiện Bắc Ninh. Ngay từ buổi ấy, chùa cũng được gọi là chùa Đồng Thiện với ý nghĩa là ngôi chùa được xây dựng nên từ tấm lòng thiện tâm của con người.

Kiến trúc với dáng bề thế, khang trang gồm nhiều tòa ngang dãy dọc, mặt quay hướng Đông Bắc. Chùa có hai lớp tam quan dọc theo đường “Thần đạo”. Nối tam quan thứ nhất với tam quan thứ hai là một nhà thiêu hương và một hồ nước tròn, kèm hai bên chùa là khu nghĩa trang rộng lớn. Các mộ chí ở đây là cả một thế giới thu nhỏ của các loại hình kiến trúc cổ kim, đông tây muôn sắc màu, san sát bên nhau yên bình và ấm cúng. Nhà thiêu hương với kiến trúc một gian vuông vức, hai tầng tám mái chung quanh để thoáng không xây tường che, bốn bức dựng 4 cốn tròn, kê trên chân tảng hình đôn đá, mái lợp ngói vẩy rồng rêu phong cổ kính, đao cong hình đá lật thâm thấp, âm u. Dulichgo

Thiêu hương là nơi quàn linh cữu của người xấu số, nơi các vị tăng ni chạy đàn cầu siêu thoát cho các sinh linh. Cả khối nhà là một thể thống nhất tượng trưng cho thái cực. Hai tầng tám mái là biểu tượng của lưỡng nghi (âm và dương). Ngôi nhà vuông tượng trưng cho tứ tượng. Tám mái là biểu tượng của bát quái.

Qua tam quan thứ nhất, đi bên hồ nước tròn quanh năm đầy nước sẽ đến cổng tam quan thứ hai dẫn vào kiến trúc chính của chùa. Tam quan này kiêm luôn gác chuông to lớn hiếm thấy ở các ngôi chùa Việt Nam khác. Cổng chính xây một ngôi lầu ba tầng tám mái, với các đao cong đắp “Rồng chầu phượng mớm” quen thuộc.

Phần chồng diêm tầng trên cùng trổ cửa sổ tròn nhìn ra bốn hướng, còn chồng diêm tầng hai mở cửa hình vòm cuốn, bên trong treo quả chuông đồng lớn. Hai bên “tam quan gác chuông là một kiến trúc mái bằng bề thế, bốn góc dựng cột vuông kiểu cột đồng trụ càng làm tăng quy mô bề thế cho công trình. Dulichgo

Hai bên cổng nhỏ bé hơn xây kiểu 2 tầng 8 mái. Tam quan là một kiến trúc thiết yếu của chùa, là chiếc cổng tượng trưng cho ý nghĩa cao siêu của Phật pháp. Sau tam quan là khu sân thiền rộng bồn hoa cây cảnh tốt tươi. Trung tâm sân thiền là bể non bộ lớn với nhiều hình thù mang dáng “vật linh”. Dọc hai bên sân tòa nhà tổ và tòa thờ hậu kiên cố, mỗi tòa 5 gian, mái lợp ngói âm dương, tường hồi xây “bổ trụ giật tam cấp” chắc khỏe.

Tòa Phật điện đối diện với tam quan qua “sân thiền” có cấu trúc hình chữ công truyền thống gồm 7 gian tiền đường, 3 gian ống muống, 3 gian hậu cung. Nét độc đáo của kiến trúc chùa là tòa hậu cung được dựng theo kiểu “chồng diêm 3 tầng, 8 mái” cao ngất trong tổng thể kiến trúc của chùa. Hai bên trước hiên tiền đường dựng nhà bia trong đồ hình vuông như cung điện 2 tầng, 8 mái. Mái nhà bia khum hình lợi chậu, bờ mái và đao cong tầng trên đắp hình phượng múa, tầng dưới đắp “độc long”. Khoảng giữa hai nhà bia hoặc đội bảo tháp “cửu phẩm” mang dáng dấp của tháp Phổ Minh (Nam Định) thu nhỏ. Nhà bia cột hiên, tháp “cửu phẩm” sân thiền tạo nên cho chùa Đồng Thiện nét hư ảo của cõi linh và sự cổ kính, đậm đà sắc thái Việt Nam.

Bước vào Phật điện, một cảnh lộng lẫy vàng son của các bức đại tự, hoành phi, câu đối, y môn và tượng pháp. Tòa tam bảo là nơi ngự của các pho tượng Tam Thế, A Di Đà, Quan Âm Thiên Phủ, Thiên Nhỡn với 11 đôi tay. Tượng Đức Thế Tôn và Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền cưỡi trên thanh sư và bạch tượng. Tượng tòa Cửu long cùng Thích ca sơ sinh. Đức Địa tạng đội mũ thất Phật ngồi trên tòa sen, tay giơ ngang vai nâng mặt trời và dải mây tượng trưng cho pháp lượng vô biên. Tượng Quan âm Nam Hải được thể hiện đứng trên đài sen bên dưới là Ô Ban Nam Đà Long vương mang bộ mặt quỷ sứ nhô từ sóng nước ba đào. Hai bên Tam bảo có Hộ Pháp khuyến thiện và trừ ác đứng chầu trông như những thiên sứ nhà trời cao tới 2,5 mét.

Ngoài ra, Phật điện còn có ban thờ Thánh Tăng, đức A Nan Đà Tôn Giả đại tâm đại chí, mang hình bóng một tăng sư, hai bên có Hộ pháp đứng chầu và 10 pho Thập điện Minh Vương. Tượng Thập điện Minh Vương mang dáng dấp của những viên quan đương thời, đầu đội mũ bình thiên ngồi trong tư thế thiết triều trên bệ ngọc. Đứng trước những pho tượng chùa Đồng Thiện như đứng trước những con người đích thực, trong sạch, nhân hậu, không chút đau thương khắc khoải, ta còn thấy ở đó giữa lòng người và Phật tâm như hòa quyện làm một.

Trong chùa còn có hai cây bảo tháp, mỗi cây cao 1,4 mét, hình lục giác, cạnh đáy 0,2 mét gồm 5 tầng, ngăn cách giữa các tầng là một mái đao cong. Trên đỉnh tháp có hình nậm rượu và một con rồng quấn quanh. Hai cây bảo tháp có 60 bức họa mà tác giả là ông Vương Ái Việt, hội viên Hội đồng thiện Hải Phòng, năm 1926 ông đã cúng hai cây bảo tháp này cho nhà chùa.

Chùa Đồng Thiện có giá trị thẩm mỹ cao, bình dị không ồn ào đã góp phần làm sáng tỏ thêm tính “Nhập thế gia trụ trì Phật pháp” của đạo Phật Việt Nam đậm tính nhân văn, đầy lòng nhân ái. Dulichgo

Khuôn viên chùa có cây sala sừng sững tỏa bóng mát, hương thơm ngào ngạt khắp nơi. Loài hoa sala còn được biết đến với tên gọi khác là hoa đầu lân kèm theo một sự tích nhà Phật được truyền từ đời này sang đời khác.

Hoa sala thuộc họ Dầu, là loại cây thân gỗ cao từ 30-35 mét, lá hinh bầu dục mọc sole. Nhánh hoa đâm chồi thẳng ra từ thân cây phân bố cả ở gần gốc, chùm hoa sala có thể dài tới 2-3 mét, bung nở vào sáng sớm với 6 cánh màu hồng dầy tỏa ra như đóa sen. Nhị hoa xếp thành chiếc búp màu trắng che khuất phần nhụy bên dưới trông giống chiếc đầu kỳ lân.

Theo CTTĐT quận Lê Chân, ảnh internet
Du lịch, GO!
Xem thêm
Loading...