Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyến xe - Đường xá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyến xe - Đường xá. Hiển thị tất cả bài đăng

Những con đường nguy hiểm nhất thế giới

Giao thông phát triển không đồng nghĩa với việc cơ sở hạ tầng đường xá được cải thiện. Ở bất cứ quốc gia nào cũng xuất hiện những cung đường rất hiểm trở gây khó khăn cho phương tiện đi lại, thậm chí còn gây ra nhiều tai nạn thảm khốc. Dưới đây là những con đường nguy hiểm nhất thế giới, nhìn ảnh thì đẹp thật nhưng chạy xe trên đó chắc chắn sẽ lạnh cả sống lưng.



Xem thêm

Con đường lát đá đầu tiên ở TP.HCM

Đường Lê Thánh Tôn - con đường đầu tiên trong dự án được lát đá để cùng với đường Nguyễn Huệ trở thành quảng trường thành phố và là phố đi bộ của TP.HCM.

Đây là một phần của hạng mục thuộc dự án cải tạo nâng cấp đường Nguyễn Huệ (quận 1, TP.HCM).

Theo đó, đơn vị thi công đã lát đá đường Lê Thánh Tôn (đoạn từ Đồng Khởi đến Pasteur) dài 220m, rộng 14m với tổng diện tích lát đá là 3.080 m2. Sau khi lát đá, xe cộ vẫn đi lại bình thường trên mặt đường Lê Thánh Tôn.

Xem thêm

Ước vọng theo những cung đường

Biên giới không còn xa, khi những con đường bắt đầu vươn mình về phía núi, nối nhịp ân tình giữa miền ngược - miền xuôi

< Lần đầu tiên, người dân Côn Zốt (xã Chơ Chun) đã có thể đi xe máy vào tận làng.

Đi về phía núi

Chủ tịch xã Chơ Chun Pơloong Ađốc chỉ về phía “cổng trời” Côn Zốt, nơi máy xúc, máy ủi vẫn đang ầm ào tiến sâu vào trong rừng, nói: “Không ai vui mừng bằng chính những người dân nơi đây, khi giấc mơ thông thương đang dần thành hiện thực”. Đã bao đời người dân Côn Zốt, A Sò, Blăng ở Nam Giang vẫn khao khát một con đường để cái lưng đỡ mỏi, cái vai bớt trĩu nặng mỗi khi gùi hàng hóa bán mua với bên ngoài. Đó là chưa kể mỗi khi ốm đau, bệnh tật, nhiều người dân chỉ biết ngồi “bó gối” bên hiên nhà vì không thể vượt hàng chục cây số đường rừng đưa người đến bệnh viện.

Xem thêm

Ðường tre đẹp nhất Sa Pa

Lên Sa Pa, nếu đến làng du lịch Tả Van, đi trên tuyến đường từ thị trấn Sa Pa - Tả Van, ai cũng phải ngỡ ngàng khi đi qua đoạn đường gần 1km hàng tre, mai, trúc xanh mướt bốn mùa dọc hai bên đường.

Từ lâu, hình ảnh lũy tre xanh đã gắn liền với làng quê Việt Nam. Cây tre tượng trưng cho con người Việt Nam cần cù, chịu thương, chịu khó, sống trung thực, ngay thẳng, luôn đoàn kết gắn bó, nương tựa lẫn nhau để vươn lên trong cuộc sống và chống lại kẻ thù. Thông thường, những lũy tre xanh thường gặp ở các làng quê vùng đồng bằng cùng với với hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình, tạo nên vẻ đẹp cổ kính, bình dị. Thật bất ngờ, ở ngay “Thành phố trong sương”, dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ - xứ sở của các loại sa mộc và những loài cây xứ lạnh, chúng ta lại bắt gặp những lũy tre, lũy mai xanh tốt đẹp đến vậy.

Xem thêm

5 cây cầu huyết mạch ở ĐBSCL

(VNE) - Không chỉ mang tính lịch sử, góp phần tạo thuận lợi cho người dân đi lại mà những cây cầu này còn làm nên nét đẹp rất riêng cho vùng sông nước mênh mông của tổ quốc.

1. Cầu Mỹ Thuận

Là cầu dây văng đầu tiên ở Việt Nam nối 2 bờ sông Tiền, nối liền 2 tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long, cầu Mỹ Thuận nằm trên quốc lộ 1A, trục giao thông chính của vùng đồng bằng sông Cửu Long, cách TP HCM 123km về phía tây nam.
Cầu dài 1535m theo hình rẻ quạt, 2 mặt phẳng với 4 làn xe cơ giới và 2 lề bộ hành rộng 23m. Ngày khánh thành cầu Mỹ Thuận thực sự là một ngày hội lớn đối với người dân ở 2 bờ sông Tiền. Việc giao thông, đi lại của người dân tỉnh Vĩnh Long dễ dàng hơn ngày trước giúp kinh tế vùng càng ngày càng phát triển.

2. Cầu Cần Thơ

Nối liền 2 bờ sông Hậu giữa tỉnh Cần Thơ và Vĩnh Long, tại thời điểm hoàn thành năm 2010 cầu Cần Thơ là cầu dây văng có nhịp chính dài nhất khu vực Đông Nam Á và thứ 10 thế giới.

Rộng 23m với 4 làn xe cơ giới và 2 làn bộ hành, nhịp chính cầu dài hơn 1km. Nhịp dây văng giữa 2 trụ tháp dài 550m. Đường dẫn vào cầu phía Vĩnh Long dài 520m, đường dẫn phía Cần Thơ dài 1,2km. Cầu Cần Thơ được xây bằng nguồn viện trợ ODA của chính phủ Nhật Bản, sau khi hợp long cầu Cần Thơ trở thành động lực phát triển mạnh mẽ cho thành phố Cần Thơ nói riêng và toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung do rút ngắn được thời gian đi lại giữa các tỉnh miền Tây, tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí vận chuyển.

3. Cầu Rạch Miễu

Khởi công năm 2002, khánh thành năm 2009, nằm trên quốc lộ 60 qua sông Tiền, cầu Rạch Miễu nối liền thành phố Mỹ Tho với tỉnh Bến Tre. Đây là công trình tiêu biểu do Việt Nam tự đầu tư, thiết kế và thi công. Dulichgo

Rạch Miễu là cầu dây văng lớn thứ ba ở miền Tây, bên cạnh cầu Mỹ Thuận và cầu Cần Thơ. Dài 8331 bao gồm cả đường dẫn nối 2 đầu cầu, chiều cao thông thuyền 37,5m cho phép tàu có tải trọng 10.000 tấn có thể đi qua. Trong tương lai, sau khi cầu Vàm Cống và cầu Cổ Chiên hoàn thành, mạng lưới cầu dây văng nối liền các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sẽ hoàn chỉnh góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế và du lịch vùng.

4. Cầu Vĩnh Ngươn

Ở Châu Đốc, An Giang có một kênh đào rất nổi tiếng chạy dọc biên giới Việt Nam - Campuchia từ thành phố Châu Đốc xuống đến thị xã Hà Tiên là kênh Vĩnh Tế. Đây từng là kênh đào dài nhất, lớn nhất và được thi công lâu nhất trong lịch sử khai khẩn miền đất phương Nam. Đại thần Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu), một danh thần triều Nguyễn là người chỉ huy trực tiếp việc đào con kênh này trong cả ba giai đoạn lịch sử.

Cầu Vĩnh Ngươn tạo thuận lợi về giao thông đường bộ và góp phần đẩy mạnh các lĩnh vực thương mại, dịch vụ công nông nghiệp và nâng cao mức sống cho người dân ở phường Vĩnh Ngươn, góp phần đóng góp phát triển kinh tế biên giới của thành phố Châu Đốc.

5. Cầu Bình Thủy

Cầu Bình Thủy bắc qua xép Năng Gù, nối liền giao thông trên quốc lộ 91 từ phía thành phố Châu Đốc đến thị trấn Chợ Mới, thị trấn Mỹ Luông và thành phố Sa Đéc.

Dù chỉ là một cây cầu nhỏ, không bề thế về quy mô với các cầu dây văng qua sông Tiền, sông Hậu nhưng cầu Bình Thủy có giá trị đặc biệt qua trọng nối liền huyện Chợ Mới, An Giang với huyện Châu Phú và các tỉnh phía Tây Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Theo Khánh Bằng (Vnexpress)
Du lịch, GO!
Xem thêm

Những người 'ôm' mây ngủ trên đỉnh Pha Đin

Có những con đường gắn liền với từng mốc son quan trọng trong lịch sử. Có những cung đường đèo gánh cả sức nặng của tình người, của sự hy sinh, của những chiến tích anh hùng qua thời gian. Một trong số đó là đèo Pha Đin huyền thoại nằm trên quốc lộ 6 chạy dọc các tỉnh phía Tây Bắc Việt Nam. Khi nghĩ về con đèo dài 32km, được mệnh danh là một trong sáu đèo ấn tượng nhất Việt Nam.

Thách thức lòng dũng cảm và máu phiêu lưu

Từ Hà Nội, nếu không đi bằng đường hàng không, chắc chắn chúng ta phải ngược quốc lộ 6, qua Hòa Bình, Sơn La tới lòng chảo Điện Biên, nơi ghi dấu chiến thắng lịch sử "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" năm 1954.

Đặc điểm địa hình khiến cung đường hiểm trở với nhiều khúc quanh ngoằn ngoèo, thử thách bản lĩnh cầm lái của bao người. Thế nhưng, đoạn đèo Pha Đin nối hai tỉnh Sơn La và Điện Biên qua hai huyện Thuận Châu và Tuần Giáo là cung đèo cân não nhất với cả những tay lái xe đường dài lâu năm qua con đường này.

Xưa, ai đó mỗi lần qua đây đều ám ảnh bởi sự heo hút không bóng người qua lại, bởi những câu chuyện "thổ phỉ" có thật. Nay, người ta vẫn không khỏi "gai người" khi nghĩ đến khoảng thời gian vượt dốc, đổ đèo với những khúc quanh tay áo, những đoạn cua chữ A, chữ Z, độ dốc trung bình là 10%, cao nhất có đoạn cục bộ dốc tới 17, 18%, độ nghiêng của mặt đường có thể khiến bánh xe bị lật lúc nào không biết, nhất là những container.

Đỉnh đèo được người dân khắp vùng gọi là cổng trời. Xuất xứ tên đèo bắt nguồn từ tiếng Thái, gọi là Phạ Đin nghĩa là trời đất. Người ta cho rằng nơi đèo heo hút chỉ có gió mây vần vũ quanh năm với núi rừng đại ngàn ấy là nơi giao thoa giữa trời và đất. Chẳng thế mà bao người tin rằng chạm đến cổng trời Pha Đin mà dừng chân đứng lại nhìn khắp bốn phương với trời xanh mây trắng và nguyện ước một điều gì đó tốt đẹp thì mọi chuyện sẽ được như ý muốn?!

Người dân hai tỉnh Lai Châu và Sơn La sống ở khu vực quanh đèo đã có nhiều cuộc xô xát, tranh chấp quyền "sở hữu" cổng trời. Tranh chấp xảy ra nhiều năm liền, bất phân thắng bại. Cả hai bên đều không chịu lùi bước, cuối cùng họ đành xử hòa bằng cách tổ chức một cuộc đua ngựa ngay trên đường đèo.

Ngựa của Sơn La và Lai Châu cùng xuất phát từ hai điểm được cho là cuối chân đèo. Khi hai đoàn ngựa gặp nhau ở một điểm sẽ là ranh giới. Ngựa bên nào chạy nhanh hơn thì bên đó được sở hữu phần đèo dài hơn. Kết thúc cuộc thi, phần cổng trời đã thuộc về tỉnh Lai Châu (nay thuộc Tuần Giáo, Điện Biên) vì ngựa Lai Châu đã chạy được 2/3 đường đèo.

Ông Nguyễn Văn Hùng (SN 1930) ở Việt Hùng, Quế Võ, Bắc Ninh, một trong những bộ đội chủ lực của trận đánh lịch sử năm 1954 tại Điện Biên Phủ kể lại: "Đèo Pha Đin ngày đó đâu có nhựa trải phẳng như bây giờ. Đường đèo là đường được kết bằng những đoàn người hành quân và vận chuyển vũ khí, đạn dược. Tôi đã đôi lần trở lại chiến trường xưa bằng ô tô, đi dọc con đường 6 mà ngạc nhiên quá. Thời chúng tôi, đường chỉ là những lối mòn”.

Không muốn rời đèo vì thích "ngủ với mây"

Lần này, ngược Điện Biên, tôi cùng bạn đồng hành chọn phương tiện là xe máy để thử cảm giác "phượt" cung đèo của lịch sử. Quốc lộ 6 ngày nay đoạn đèo Pha Đin đã được Nhà nước đầu tư xây dựng lại thấp và to, đẹp, bớt hiểm trở hơn cũ. Thường chỉ có khách du lịch hoặc dân "phượt" mới can đảm chọn đường đèo cũ để thỏa chí phiêu lưu mạo hiểm. Tưởng rằng qua đèo sẽ chỉ có mình đối diện với đá với núi và "ngửi mây" miễn phí, nhưng tôi đã lầm. Người Thái đã có mặt và sinh sống dọc hai bên đường khu vực đỉnh đèo, xua đi cảm giác lạnh lẽo, heo hút của nơi đất trời hòa quyện. Những ngôi nhà tưởng lúp xúp, tạm bợ ngay ven đường đèo lại ẩn chứa trong nó nghị lực sống kiên cường. Dulichgo

Một phần vì mệt mỏi sau chặng đường dài, một phần vì tò mò với ngôi nhà sàn nhỏ nhắn, đơn sơ dựng ngay ven đường theo kiểu của dân tộc Thái, chúng tôi táp xe dừng lại bắt chuyện. Phải mất một lúc sau, sự bất đồng ngôn ngữ của chúng tôi mới được giải tỏa qua vài câu nói "trọ trẹ" của người phụ nữ. Thì ra họ đều không nói được tiếng Kinh, chỉ có bà Cà Thị Kỉn (SN 1963) là biết nói đôi ba câu vì xưa ở quê, bà có tiếp xúc với khá nhiều người Kinh.

Được biết, bà là người Thái gốc ở Phong Xa Lì của Lào. Sau cuộc chiến Điện Biên Phủ, mẹ bà lấy chồng Việt Nam nên chuyển sang Sam Mứn sinh sống. Sau này, khi chọn chồng bà vẫn theo mẹ chọn đàn ông Thái. Bà tâm sự: "Đàn ông Thái chăm chỉ cần cù và thương vợ lắm". Cuộc sống tuy không giàu có nhưng cũng đủ ăn, đủ tiêu. Rồi một lần có việc gia đình, hai vợ chồng bà đi qua Sơn La thăm họ hàng. Đến vùng đèo thiêng này, thấy trời đất giao hòa, khí trời thanh sạch thì ông bảo bà: "Hay vợ chồng mình chuyển lên đây sống nhé".

Chẳng hiểu sao, bà cũng đồng ý. Họ dọn lên đây sinh sống trong sự ngạc nhiên và không ít lời chỉ trích của bà con họ hàng dưới quê. Người ta bảo vợ chồng bà bị hâm. Nhưng hơn ai hết, bà hiểu chồng mình. Chồng bà đã từng có một thời lầm lỡ đi theo sự cám dỗ của "cái chết trắng". Sau này, thương vợ, yêu con nên ông đã quyết tâm và dứt bỏ được con đường cũ. Nhưng ở quê, nhiều người vẫn không từ bỏ lỗi lầm. Chính vì thế, ông quyết tâm rời bỏ quê hương để mãi mãi tránh xa "con ma" thuốc phiện.

Có lần tôi hỏi, ông ấy chỉ cười bảo: Tôi thích "ngửi gió" đỉnh trời và "ngủ với mây" rồi, coi như không cần ngủ với vợ hai nữa. Nếu bà không chịu được cảnh sống buồn thì bà cứ về quê với gia đình, thỉnh thoảng lên thăm tôi. Tôi sẽ không lấy ai khác ngoài bà".

Hôm nay, chồng bà có việc về quê, bà ở nhà một mình nên gọi những người hàng xóm qua chơi. Nói là hàng xóm, nhưng nhà họ cách nhau cả vài cây số ở trên đỉnh đèo này. Dù vậy, với họ, càng heo hút, càng muốn gắn bó để xích lại gần nhau. Nhờ những con người như họ mà con đèo Pha Đin huyền thoại đã khoác lên mình sức sống mới, sức sống của tình người nơi rẻo cao.

Theo Dương Thu (Người Đưa Tin)
Du lịch, GO!

Đèo Pha Đin hay Dốc Pha Đin là đèo núi có độ dài 32 km nằm trên quốc lộ 6, một phần thuộc xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La và một phần thuộc xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Điểm khởi đầu của đèo cách thị xã Sơn La về phía Tây 66 km còn điểm cuối của đèo cách thành phố Điện Biên khoảng 84 km.

Đèo Pha Đin nổi tiếng đẹp và nguy hiểm. Con đường đèo liên tục những cua dốc dựng đứng và cua tay áo suốt 32km chiều dài. Từ Tuần Giáo đến Thuận Châu là đoạn đèo khó khăn nhất, đang được mở rộng và ăn sâu vào núi. Dưới chân đèo còn lác đác vài bản, lên gần đến đỉnh đèo thì hầu như không còn bản làng nào nữa.

Tuy nhiên, từ năm 2006 đến năm 2009: dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 6 đoạn Sơn La-Tuần Giáo với tổng mức đầu tư hơn 1.165 tỷ đồng đã hoàn tất. Tuyến đường tránh đèo Pha Đin được xây dựng bám theo sườn núi các đỉnh đèo phụ phía trái quốc lộ 6 cũ, có độ cao khoảng 1.000m (thấp hơn đèo Pha Đin 200-400m), đã khiến xe cộ ít lưu thông qua cung đường qua đèo Pha Đin và con đèo chỉ còn phù hợp với khách du lịch ưa mạo hiểm.
Xem thêm

Lục Thị Đậu: người mở đường ra Mũi Né

(BTO) - “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (*), có điều gì đó bâng khuâng khi đi lại con đường Phan Thiết - Mũi Né. Đường xưa, xe ngựa cũ không còn, nhưng khó lòng quên được người  phụ nữ bằng công sức và tiền bạc đã mở con đường này.

Tấm bia đá và người quá cố

“Tôi là Lục Thị Đậu nghiệp chủ, chánh quán Khánh Thiện, trú quán Phú Trinh, ở tại đường Hải Thượng Lãn Ông - Phan Thiết đứng dựng bia này để kể lại cuộc đời dĩ vãng của tôi từ lúc sơ sanh đến lúc trưởng thành...”. Lục Thị Đậu là ai? Vì sao người phụ nữ  họ Lục lại tự dựng bia kể về mình? Bia được lập năm 1958, đến nay gần 60 năm. Thời gian gần phủ mờ tất cả. Một buổi sáng tôi đã không khỏi tò mò để quyết định đi tìm chân dung người đàn bà họ Lục, người mà cha chú của tôi kể: Có nhiều công tích trong việc mở đường Phan Thiết - Mũi Né.

Bất hạnh và bươn chãi

Một ngày  mùa hè năm 1888, khi ấy lịch âm là ngày 26/6. Ở  Khánh Thiện - một làng biển nhỏ của Mũi Né, nhiều người biết chuyện một phụ nữ nghèo, vợ của một người đàn ông họ Lục, từ Chợ Lầu (khi ấy gọi là Phan Lý Chàm) vào gánh cá mướn, vừa sinh đứa con gái.  Con bé nom bụ bẫm, vừa ra khỏi lòng mẹ đã khóc thét, khóc kéo dài. Mẹ con bé muốn dỗ con nhưng  chị ta không còn sức vì không cầm được đường huyết. Một thời gian ngắn sau, mẹ bé gái qua đời. Mất mẹ, không sữa, bé càng khóc. Một phụ nữ đứng tuổi là chị của mẹ bé gái quyết định bồng cháu đi xin sữa, cháo loãng. Thời gian trôi đi. Khi  Đậu được 8 tuổi, người cha, lúc này đã có  vợ mới muốn đưa con gái về nuôi. Thế nhưng chỉ được một  vài năm, Đậu phải xin về lại bên nội vì… như ca dao cổ thường nói: “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng ”.

< Bà Lục Thị Đậu chụp trước năm 1969.

Năm 1905, Lục Thị Đậu tròn 17 tuổi. Nước da cô đen giòn vì suốt ngày hứng gió biển, nhưng môi lúc nào cũng đỏ mọng, mắt lá răm nhìn ai cứ như thăm thẳm, rõ là thu hút. Đậu còn được trời cho sức khỏe. Tuy cùng  gánh cá như mọi người, nhưng người ta chỉ vài ba gánh đã mệt còn Đậu rõ ràng trên chục gánh vẫn chạy phăm phăm. Những gia đình có con trai trong làng đánh tiếng,  nhờ mối mai hỏi Đậu cho con họ, nhưng bà nội chỉ muốn gả Đậu cho con trai ông Hương Nhu ở làng Thiện Khánh kề bên (Hàm Tiến ngày nay). Ngày Đậu lấy con trai ông Hương Nhu, đám rước đi tới đâu, người ta đổ ra xem đến đó. Ai cũng mừng cho Đậu.

Thế nhưng, đôi vợ chồng trẻ ấy đã đứt gánh chỉ sau một năm vì chồng Đậu không may bị bệnh nặng qua đời. 2 - 3 năm sau,  Lục Thị Đậu  xin về lại với nội. Làng Thiện Khánh năm ấy lại có thêm  đợt người từ các nơi đổ về làm biển. Nhà bên cạnh có anh Lương Trân, lúc nào thấy Đậu cũng  nhìn trân trân. Hàng xóm nói với nội: “Bà ơi, con Đậu nó đứt gánh nửa đường, nay có  người thương bà nên cho nó tái giá”. Nội nghe phải, đồng ý. Năm 1908, Đậu và người thanh niên nhà bên nên duyên chồng vợ. Ngày ra riêng, nội cho Đậu  một quan tiền, một giạ gạo,  dặn hai cháu cố gắng bươn chãi, đùm bọc, thương yêu nhau. Đó là những ngày cực kỳ khó nhọc như bà Lục Thị Đậu kể trên văn bia: “Hết sức nghèo khổ, thiếu trước hụt sau, thậm chí thiếu nợ, ngày nào chủ nợ cũng kéo đến đòi”. Dulichgo

Tạo dựng cơ nghiệp

Đôi vợ chồng trẻ làm đủ việc kiếm sống. 5 giờ sáng cô Đậu  thức dậy. Hai vợ chồng cùng tráng bánh.  Hết bánh quay sang  chiên cá bán chợ chiều. Ông Lương Trân thương vợ làm hết mọi việc nặng nhọc. Ông chỉ có một việc không đồng ý với vợ là cô quá tiết kiệm. Bữa ăn  nhà họ thường chỉ có cá. Cá kho nhiều nước để chấm rau luộc. Có lúc  gần nửa tháng, số cá mua 2 xu  vẫn còn nguyên trong nồi...  Tuy vậy, với bên chồng cũ, hàng xóm láng giềng, cô Đậu  hết sức nhiệt tình, sẵn sàng giúp đỡ người ngặt nghèo, ốm đau.

Bà kể:“ Vợ chồng  hết sức cần kiệm, được 2.000 đồng nhưng phải vay thêm 1.000 đồng… Mẹ chồng cũ cho mượn thêm 300, tổng cộng tất cả 3.300 đồng. Nhờ số tiền ấy, vợ chồng tôi tạo được lều cá đầu tiên, vốn là tài sản của bà Tư  Mũi Né bán lại. Ngay lúc ấy, cha chồng cũ bán chịu cho 2 chiếc ghe cá, gặp lúc cá muối mắm có giá, chúng tôi  càng  cố  làm ăn để thêm phát đạt. Tuy vậy, chúng tôi còn phải tự lực chưa dám mướn người ở. Thí dụ, khi đổ xác mắm phải đợi đến nửa đêm, và phải mướn một ông già với tiền công 2 cắc để ổng  xúc xác (mắm), chuyền cho tôi để tôi đội ra biển đổ”. Bà đã viết như thế về những ngày đầu tạo dựng cơ nghiệp của mình.

Người dân làng Khánh Thiện thấy vợ chồng Đậu chịu khó làm ăn, làm đâu được đó nên tin tưởng bán nợ nước mắm. Đậu chở số nước mắm ấy vào Sài Gòn bán, rồi mua hàng hóa chở về.  Sau khi có tiền thu từ hàng hóa, cô mới đem trả cho người bán  nước mắm ban đầu. Với cách kinh doanh như vậy, dần dà cô Đậu  tích lũy được một số vốn để mở rộng kinh doanh ở nhiều lĩnh vực. Cô Đậu trở nên giàu có nhất nhì xứ Phan Thiết và dân làng thường gọi cô là bà Hòa Chánh (từ đây trở đi, gọi như thế). Bằng tài năng kinh doanh, bà Hòa Chánh  tiếp tục duy trì sự giàu có  từ thập niên 30 đến thập niên 60 của thế kỷ XX.

Bậc nhất xứ Phan

Năm 1932, Phan Thiết được chính quyền thuộc địa chủ trương kiến thiết lại để phù hợp với tính chất là thủ phủ của một tỉnh quan trọng của Trung Kỳ bấy giờ. Khi ấy, chính quyền thuộc địa kêu gọi và hỗ trợ những thương gia, nhất là các thương gia địa phương, mở đường, xây phố, lập chợ... Nhiều phố xá và chợ búa ở Phan Thiết được xây giai đoạn này như: chợ Gò, Đồn, chợ Lớn...

Bà Hòa Chánh từ Mũi Né vào Phan Thiết mua hơn 20 căn nhà phố trên đường Hải Thượng Lãn Ông - đường phố chính của Phan Thiết thời ấy - để cho thuê. Cũng từ đấy, bà chính thức bước chân vào lĩnh vực bất động sản. Đến cuối thập niên 50, tại Phan Thiết, bà Hòa Chánh có hơn 100 căn nhà phố nằm trên các tuyến đường chính, khu thương mại: Lý Thường Kiệt, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Hoàng (Lê Hồng Phong ngày nay), Trương Công Định, Yersin, khu chợ củi... Bà cũng vào La Gi mua 30 căn nhà phố ngay tại khu chợ mới. Tại Sài Gòn, bà có 25 căn nhà phố trên các tuyến đường phố chính như: Hùng Vương, Nguyễn Cư Trinh, Bến Chương Dương... và một xưởng cưa tại Gò Vấp. Ở làng Khánh Thiện (Mũi Né) quê hương mình, năm 1962 bà cho xây 20 căn nhà phố lầu đầu tiên. Dãy phố này có thể nói là hiện đại nhất tại Mũi Né thập niên 60 - 70. Không chỉ kinh doanh lĩnh vực đất đai, bà còn là cổ đông lớn của Hãng hàng không Air Vietnam và Công ty Dentaco chuyên kinh doanh máy cày, máy kéo lớn nhất Sài Gòn.

< Đường Mũi Né ngày xưa.

Ngoài ra, quá trình tìm hiểu tư liệu về cuộc đời bà, chúng tôi hết sức bất ngờ về hàng trăm mẫu (hecta) đất đai, ruộng vườn mà bà sở hữu. Đa số đất ấy ở: Hàm Thắng, Hàm Đức, Hồng Sơn, Ma Lâm, Hàm Liêm... Bà Hòa Chánh còn bỏ tiền ra mua đất của Chính phủ rồi khai hoang, vỡ hóa thành ruộng. Bởi vậy bà có một kho lúa rất lớn tại  khu 60 Hải Thượng Lãn Ông mà người dân Phan Thiết thời đó ai cũng biết.

Mở đường, xây trường, hiến tài sản cho kháng chiến

Từ trước thập niên 30 thế kỷ XX, mọi giao thương từ Mũi Né đi các nơi khác chủ yếu bằng đường biển. Do đặc thù Mũi Né là bãi ngang nên tàu thuyền muốn vào Mũi Né chỉ thuận lợi trong 6 tháng mùa gió Nam (nồm), đến mùa gió Bắc (bấc) thì hết sức khó khăn. Đường bộ từ Phan Thiết đi Mũi Né chỉ có đường mòn để đi bộ hoặc đi ngựa. Do đường mòn lắm cát và không an toàn vì trộm cướp nên ít người mạo hiểm đi. Xuất phát từ những lý do đó, bà Hòa Chánh đề xuất chính quyền thuộc địa để bà làm con đường xe hơi từ Phan Thiết đi Mũi Né. Thời đó, thi công chủ yếu bằng sức người, lại thi công trên địa hình gió cát nên phải mất 3 năm sau mới hoàn thành xong tuyến đường gần 20km này. Năm 1922(?), việc khánh thành con đường xe hơi Phan Thiết đi Mũi Né là một sự kiện quan trọng ở Trung Kỳ. Trước hành động nghĩa hiệp này, triều đình Huế ân tặng cho bà Hòa Chánh bốn chữ “Hào Nghĩa Khả Gia”.

Có đường xe hơi rồi nhưng thời đó người dân các làng Khánh Thiện, Thạch Long, Long Sơn (Mũi Né) chỉ có một trường tiểu học công lập.  Chỉ có học sinh nhà khá giả mới có điều kiện vào Phan Thiết ở trọ theo học trung học. Do vậy,  học sinh  học trung học ở Mũi Né rất ít. Thương người dân quê mình, năm 1942, bà Hòa Chánh xây dựng Trường trung học Hải Long rồi giao lại cho chính quyền quản lý. Nhiều thế hệ học sinh Mũi Né, giai đoạn 1942 - 1970 đều nhớ tấm bia ở sân Trường trung học Hải Long, ghi dòng chữ “Bà Lục Thị Đậu phụng cúng”. Nghĩa cử này của bà  được Hoàng đế Bảo Đại ân tặng “Nhị Hạng Long Bội Tinh”. Ngoài ra, không chỉ lập trường học ở Mũi Né, bà còn xây trường tiểu học tại Phú Hài, được chính quyền sở tại cho phép khai khẩn đất đai để xây chùa ở khu vực Lầu Ông Hoàng ngày nay.

Theo tài liệu lịch sử Nam bộ kháng chiến, năm 1945 Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, trong tay là nền tài chính kiệt quệ, kho bạc trống rỗng. Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm bao vây tứ phía. Hưởng ứng lời kêu gọi “Tuần lễ vàng” trong cả nước từ 17 - 24/9/1945 của Hồ Chủ tịch, tại Bình Thuận, cùng với các bà: Dương Thị Lâu, Nguyễn Thị Thềm, bà Hòa Chánh ủng hộ vàng cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

< Nhà mộ gia đình bà Lục Thị Đậu.

Do không có con nên vợ chồng bà xin một người con  nuôi và đặt tên là Lương Xuân. Vợ chồng bà đồng ý cho  con nuôi duy nhất của mình tham gia kháng chiến. Ông Lương Xuân  là tiểu đội trưởng cảm tử đội Phan Thiết. Năm 1948, trên đường đi công tác, ông  bị mật thám bắt và xử tử tại khu vực xóm Đầm (Bình Hưng, Phan Thiết).

Cả một đời tần tảo, làm giàu cho mình và đóng góp cho xã hội nhiều điều hay, bà Hòa Chánh xứng đáng được người đời ghi nhớ. Bà mất năm 1974, thọ 86 tuổi, được an táng trong phần mộ của gia đình  tại phường Phú Hài (Phan Thiết).

(*): Trích thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan. Ý nói đến “sự vật đổi sao dời”, không có gì vững bền trước thời gian.

Theo Lê Huân (Báo Bình Thuận)
Du lịch, GO!

Đây là con đường khởi đầu đến một địa danh mà khi ấy ít ai biết đến. Đến năm 1989, đoạn từ Phan Thiết về Mũi Né gần như trở thành một con đường đất đỏ bụi mờ, gian khổ, nhựa bị nứt tách loang lổ. Xe chạy sát bên lề, ì ạch, nghiêng ngả, khách ngồi đã quen thở lên thở xuống, chẳng ai nói gì, rồi đến đoạn đường cát mịn dày xe lún không qua được, hành khách phải xuống bớt, lơ xe lấy 2 thanh gỗ hoặc 2 vỉ sắt để ở hai bánh xe trước, tài xế cố nhấn ga cho xe vượt qua.

Thỉnh thoảng, xe ghé dọc đường bỏ hàng cho quán xá,10 phút một/ lần, xe đi mãi cho đến trời đổ tối thì đến Mũi Né. Hồi đó, chưa có xe ôm. Phương tiện duy nhất là xe than (xe chạy bằng một bình than to để phía đuôi xe được che chắn cho than khỏi bắn vào hành khách), gắn biển giao thông 5 km/giờ. Đó là đường từ Phan Thiết đi Mũi Né nhé, còn từ Mũi Né đi Hòn Rơm thì hoàn toàn chưa có gì; khách muốn đến Hòn Rơm là một vấn đề lớn vì phải vượt rất nhiều đồi cát giữa cái nắng cháy da.

Vậy nhưng đường đi Mũi Né hồi đó đẹp lắm, một bên là đồi cát đỏ, bụi cây xanh lô nhô, một bên là biển rộng nước xanh, sóng vỗ miên man vào bờ, đến những quãng đường không có nhà dân chỉ thấy toàn cát trắng, vài bụi cây cô quạnh màu xanh thẫm, chơ vơ. Hàng cây xương rồng mọc thành mấy lớp chạy suốt theo bờ biển, những cành cây hoang dại nhô ra đường đập vào thành xe.

Rồi sau sự kiện nhật thực năm 1995: Mũi Né như cô công chúa ngủ trong rừng tỉnh giấc, khoác chiếc áo du lịch vội vàng. Cánh xe ôm đông hơn, những con đường mới mở thẳng tắp rộng thênh thang tách đồi cát mênh mông thành con đường tráng nhựa, lề đường lót gạch. Các khu nghỉ dưỡng chạy nối tiếp nhau mang đủ phong cách Âu, Á, Mỹ La-tinh...
Mũi Né đã thay đổi cho kịp trào lưu văn minh hiện đại nhưng ký ức ngày xưa về một con đường của thuở hồng hoang vẫn còn đấy... (Dulichgo)

Nhớ Mũi Né xưa
Nhớ Hòn Rơm... xưa
Xem thêm

Đèo Triệu Hải say lòng dân phượt

'Đèo Triệu Hải, cung đường mới làm say lòng dân phượt'

< Hồ Tâm Châu.

Vậy nhưng đây vẫn là cung đường ít người biết vì chả mấy ai nhắm đến do khó khăn và nhiều hiểm trở. Chính vì vậy nên cung đường này vẫn là chốn đi tuyệt vời và mình xin tổng hợp lại để bạn nào thích thì tham khảo trước khi lên đường. Tôn K’long vẫn còn khó khăn lắm, vậy nên nếu nhóm bạn chinh phục cung đường này xin hãy cố gắng thu xếp một ít quà cho trẻ em tại đây nhé: áo ấm, áo mưa, tập vở, quà bánh... sẽ giúp các bé vui và chính bạn cũng vui lây.

Xem thêm
Loading...