Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Nên cúng ông Công ông Táo vào giờ nào?

Lễ cúng ông Công ông Táo 23 tháng Chạp
Ngày 23 tháng Chạp - ngày ông Táo về chầu trời được xem như ngày đầu tiên của Tết Nguyên đán. Sau khi tiễn đưa ông Táo, mọi người bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ cúng ông bà tổ tiên, treo tranh, câu đối, cắm hoa ở những nơi trang trọng.

Theo tục cổ truyền thì Táo quân gồm hai ông và một bà, tượng trưng là 3 cỗ "đầu rau" hay "chiếc kiềng 3 chân" ở nhà bếp. Lễ vật cúng Táo quân gồm có: Hai mũ cánh chuồn dành cho các Táo ông, một mũ không có cánh chuồn dành cho Táo bà.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Giám đốc Trung tâm Lý học Đông phương, lễ cúng ngày 23 tháng Chạp, các gia đình thường cúng trên bàn thờ gia tiên với cách gọi nôm na là cúng ông Công, ông Táo. Tuy nhiên, đây là hai vị thần khác nhau. Ông Công là vị thần cai quản đất đai trong nhà.

Lễ cúng ông Công, ông Táo ngày 23 tháng Chạp (Ảnh minh họa)
Xem thêm

Bí ẩn kiến trúc nhà rông Tây Nguyên

Nhà Rông một loại hình kiến trúc dân gian - kiến trúc truyền thống lâu đời của các dân tộc thiếu số cư trú ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên. Đó là một ngôi nhà cộng đồng – nơi tựu trung của cả buôn làng vào những dịp lễ hội, cúng tế, ma chay… cũng giống như Đình Làng của người Kinh.

Đến nay, người ta vẫn chưa xác định được Nhà Rông có tự bao giờ, nhưng có một điều chắc chắn là đã rất lâu đời. Nó không chỉ là một sản phẩm văn hóa truyền thống mà còn rất đẹp và độc đáo.


Trước khi dựng nhà rông, điều mà các nghệ nhân quan tâm nhất không phải chiều cao hay số lượng cột mà là chiều dài. Chỉ cần con số này, họ sẽ suy ra kích thước toàn bộ nhà rông…


Nói đến những đặc sắc trong văn minh kiến trúc của người Tây Nguyên phải nói đến nhà rông. Nhà rông từ lâu đã không còn xa lạ với nhiều người, nhưng điều mà người ta tò mò là tại sao với hai mái cao chót vót, không phải liên kết bằng các xà đục lỗ xuyên qua cột, không cần thắt mộng hay một chiếc đinh mà trước những cơn gió dữ quanh năm vẫn đứng vững. Điều bí ẩn chính là những con số mà các nghệ nhân qua kinh nghiệm thực tiễn đã đúc kết nên.



Trước khi dựng nhà rông, điều mà các nghệ nhân quan tâm nhất không phải chiều cao hay số lượng cột mà là chiều dài. Chỉ cần con số này, họ sẽ suy ra kích thước toàn bộ nhà rông… Giả dụ chiều dài của một nhà rông sắp dựng là 8m thì các kích thước này sẽ được suy ra như sau: Chiều cao từ mặt đất lên sàn: 1,5m; chiều rộng 2 đầu: 4m; chiều cao từ nóc xuống mặt đất 8m và độ dài của mỗi mái bằng 2/3 kích thước chiều rộng nhất của bề ngang…

Điều đáng chú ý là các kích thước được suy ra không cần dựa vào công thức có sẵn mà bằng trực giác "nhìn là biết ngay". Nếu tỉ lệ này bị phá vỡ trong phạm vi dao động cho phép thì nhà rông không những mất hết tính mỹ thuật mà sự chống chọi với thời tiết của nó cũng không hiệu quả.



Mái nhà rông chẳng hạn. Đây là bộ phận phải chống đỡ gió mưa nhiều nhất. Người ta đã nghiên cứu và thấy rằng trong tỉ lệ kích thước cho phép này thì sức chống đỡ của những hàng cột sẽ đều nhau và cân bằng. Hai mái tạo thành một góc hẹp phía trên nhưng phía dưới sẽ tạo thành hai đường cong hình elip khuyết khoảng 1/8 cung.

Điều này tạo nên một sự hợp lý là khi gió thổi vào mái sẽ tạo thành một đường tựa như thổi qua cái chai, làm giảm hẳn tiết diện của mái. Nhưng nếu chiều rộng của nhà rông được nâng lên nữa thì góc khuyết hình elip giữa hai mái sẽ nhỏ lại. Và điều đó cũng có nghĩa là làm tăng tiết diện chịu gió của mái lên...

Không cần đến những vật liệu quá to tát, không cần đến cưa, đục; chỉ chiếc rìu, con dao với sợi lạt mây, người Tây Nguyên đã tạo nên những ngôi nhà rông hoành tráng, vững chãi giữa cao nguyên đầy nắng gió. Nhà rông kỳ diệu với những điều tinh tế mà đơn sơ như vậy đấy…

Theo Danviet, Lhctravel
Xem thêm

Độc đáo món ăn nấu trong ống lồ ô

Cơm, canh, thịt, cá... tất cả đều được nấu trong ống lồ ô - đây là nét độc đáo trong quá trình chế biến thức ăn của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng.

Độc đáo món ăn nấu trong ống lồ ô

Không quá cầu kỳ trong cách chế biến, không kén chọn nguyên liệu, nhưng các món ăn được nấu trong ống lồ ô luôn giữ được hương vị đậm đà, nguyên gốc của thực phẩm. Loại hình ẩm thực này ngày càng được nhân rộng, vượt qua cổng làng đi vào thực đơn của các nhà hàng, khách sạn…
Xem thêm

Ghè trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số

Ghè là tiếng phổ thông dùng để gọi một loại vật dụng của đồng bào các dân tộc thiểu số Kon Tum dùng để ủ/đựng rượu cần, là vật dụng thiết yếu trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của cư dân nơi đây.

Cư dân các dân tộc thiểu số Kon Tum từ khi sinh ra, trưởng thành và đến khi đi về với tổ tiên đều gắn liền với chiếc ghè. Khi còn sống ghè gắn bó mật thiết với con người qua các sinh hoạt lễ hội, lễ nghi, vật cúng tế thần linh, là tài sản, vật trao đổi, vật gia truyền trong gia đình, là tài sản quý, dùng làm của hồi môn theo con trai con gái đi bắt vợ bắt chồng. Khi chủ nhân chết đi, ghè cũng được “chia của” theo người về với thế giới bên kia.
Xem thêm

Độc đáo lễ thức Ting Pêng

Ting Pêng có thể được tổ chức bất cứ khi thời điểm nào trong năm, khi có điều kiện, kéo dài từ 2- 4 ngày…

Kết quả khảo sát điền dã cho thấy, hiện nay chỉ còn vài làng ở xã Đăk Ui và xã Ngọc Réo (huyện Đăk Hà) còn lưu giữ được lễ thức Ting Pêng độc đáo này...

Ting Pêng là lễ thức tín ngưỡng của người Xê Đăng Tơdră. Theo tiếng Tơdră thì Ting là cúng, tế, Pêng là bắn. Tên gọi này đã thể hiện được 2 đặc thù cơ bản của hoạt động này: cúng thần linh và bắn gia súc. Lễ thức này xuất phát từ quan niệm trả nợ thần linh - một khi “có của ăn, của để” là lúc phải thực hiện lời hứa trước thần linh. Ting Pêng có thể được tổ chức bất cứ khi thời điểm nào trong năm, khi có điều kiện, kéo dài từ 2- 4 ngày… Kết quả khảo sát điền dã cho thấy, hiện nay chỉ còn vài làng ở xã Đăk Ui và xã Ngọc Réo (huyện Đăk Hà) còn lưu giữ được lễ thức Ting Pêng độc đáo này.
Xem thêm

Bãi tắm tiên dưới chân đèo Khau Phạ

Từ quốc lộ 32 hướng về huyện Mù Cang Chải, Tú Lệ là xã sát sườn đèo Khau Phạ, trực thuộc huyện Văn Chấn của tỉnh Yên Bái. Trước khi vượt "Sừng trời" (đèo Khau Phạ), Tú Lệ hiện ra với hương thơm ngào ngạt của nếp và lúa khiến nhiều du khách phải dừng chân ghé lại để thưởng thức chút xôi nếp giản dị mà nức tiếng cả nước của đồng bào dân tộc Thái nơi đây.

Bản làng nhỏ nằm dưới chân đèo Khau Phạ này vốn rất nổi tiếng với đặc sản gạo nếp Tú Lệ nhưng ít người biết rằng, chỉ cách đường quốc lộ vài bước chân còn có một bãi tắm tiên của người Thái, nơi mà chính bạn có thể hòa mình vào làn nước suối khoáng nóng và chiêm ngưỡng cảnh sắc yên bình của một vùng quê trù phú.
Xem thêm

Khách nhà dài

(BAVN) - Đến Tp. Buôn Mê Thuột du khách được thưởng thức một loại hình du lịch mới lạ của dân tộc Ê Đê ở buôn Kô Sia (phường Tân Lập) là thăm nhà dài và thưởng thức những nét văn hóa đặc sắc được người dân nơi đây bảo tồn qua hàng nghìn năm.

Trước đây buôn Kô Sia là một buôn nhỏ của người Ê Đê với những nếp nhà dài êm đềm và là một trong bốn buôn cổ hình thành nên Tp. Buôn Mê Thuột ngày nay. Khi thành phố được mở rộng, buôn Kô Sia nay thuộc phường Tân Lập đã bị đô thị hóa và mất dần những nét văn hóa của người Ê Đê. Trước thực trạng đó, cách đây hơn 10 năm, già làng Ma Len tập hợp những người cao tuổi trong buôn lập nên đội cồng chiêng buôn Kô Sia nhằm truyền lại cho thế hệ trẻ ở buôn cách thức đánh cồng chiêng - nét văn hóa đặc sắc của người Ê Đê ở Tây Nguyên.

< Cây nêu trừ tà và mang những điều may mắn cho du khách đến thăm nhà dài Ê Đê.

Nhớ lại thời kỳ đó, già làng Ma Len cho biết: “Người Ê Đê ở Buôn Kô Sia chúng tôi thèm nghe tiếng cồng chiêng như con suối thèm nước vào mùa Tây Nguyên khô khát. Dulichgo

Từ khi chúng tôi mở lớp truyền dạy cồng chiêng cho giới trẻ, tiếng chiêng được vang lên mỗi tối ở nhà dài át đi tiếng loa đài ngoài phố lũ, làng như được giải cơn khát âm thanh của đại ngàn”.

< Thưởng thức tiếng khèn đinh tắt tà, câu hát truyền thống của bà con dân tộc Ê Đê.

Ban đầu lớp cồng chiêng được dạy tại nhà dài của già làng Ma Len thu hút sự tò mò của người dân thành phố và khách du lịch. Có rất nhiều du khách nước ngoài hằng tối đến tận buôn Kô Sia để nghe và xem các nghệ nhân dạy hát và đánh cồng chiêng cho lớp trẻ.

< Đội cồng chiêng buôn Kô Sia biểu diễn những âm điệu của núi rừng Tây Nguyên trong nhà dài.

Từ khi Đội cồng chiêng buôn Kô Sia hoạt động có hiệu quả, những thế hệ trẻ đã biết đánh cồng, chiêng và tích cực tham gia các hội diễn văn hóa do tỉnh Đắc Lắc và khu vực Tây Nguyên tổ chức thì địa danh buôn Kô Sia đã nổi tiếng trong vùng.

< Nhà dài ở buôn Kô Sia là nơi sinh hoạt văn hóa của một trong các đội cồng chiêng nổi tiếng nhất Tây Nguyên.

Cách đây ba năm, Sở văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Đắc Lắc có đến đặt vấn đề với già làng Ma Len và Đội cồng chiêng buôn Kô Sia tổ chức giới thiệu văn hóa của người Ê Đê dành cho khách du lịch. Theo đó, các công ty du lịch, lữ hành cũng liên hệ để phát triển tour tại buôn Kô Sia để làm đa dạng các loại hình du lịch ở Tây Nguyên.

Từ khi buôn Kô Sia phát triển du lịch, đời sống đồng bào Ê Đê nơi đây được cải thiện rõ rệt. Ông Aê Yon ở Kô Sia cho biết rằng: “ Buôn chúng tôi giờ chuyên môn hóa trong việc phát triển du lịch. Này nhé, đàn bà con gái thì chuẩn bị các món ẩm thực truyền thống của người Ê Đê để du khách thưởng thức, đám thanh niên thì thành lập đội hát dân ca, sử thi còn lớp người gia chúng tôi thì đánh cồng, chiêng trong nhà dài”. Dulichgo

< Du khách đến thăm nhà dài ở buôn Kô Sia thưởng thức các điệu dân ca dân vũ truyền thống của người Ê Đê.

Hiện nay, hằng tuần buôn Kô Sia đón hằng chục đoàn khách đến để thưởng thức âm thanh cồng chiêng và những nét văn hóa đặc sắc của người Ê Đê. Mỗi đêm tại nhà dài ở buôn Kô Sia du khách được các nghệ nhân và lũ làng phục dựng lại các lễ hội truyền thống như: Lễ lúa mới, lễ đầu năm, lễ hội cầu mùa, lễ đẻ đất, đẻ nước...

< Cùng nhau thưởng thức những ché rượu cần...

Tại nhà dài của già làng Ma Len chúng tôi gặp đoàn khách là những sinh viên khoa Phương đông học của trường Khoa học Xã hội và Nhân văn đang hứng thú nghe những điệu dân ca mượt mà của người Ê Đê. Sinh viên Nguyễn Tuấn Hùng chia sẻ rằng: “ Em đang tìm hiểu về văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để làm đề tài tốt nghiệp. Tại đây, nghe và xem các nghệ nhân đánh cồng chiêng, nghe hát dân ca em như thấy được văn hóa cả Tây Nguyên gói gọn trong nhà dài”.

Nói về sự hiệu quả của buôn Kô Sia trong công tác phát triển du lịch, Ông Nguyễn Minh Đức, Phó chủ tịch UBND phường Tân Lập cho biết: “ Sản phẩm khách nhà dài ở buôn Kô Sia đã trở thành một loại hình du lịch đặc sắc của địa phương chúng tôi. Thông qua sản phẩm du lịch khách nhà dài, người Ê Đê có cơ hội quảng bá văn hóa với bè bạn quốc tế và quan trọng hơn, chúng tôi đã thành công trong việc bảo tồn văn hóa gắn với việc phát triển kinh tế”.

Nhà dài là nhà ở truyền thống của dân tộc Ê Đê. Nhà dài là nơi ở chung cả một dòng họ và thường xuyên được nối dài thêm mỗi khi một thành viên nữ trong gia đình xây dựng gia thất. Nhà dài được xây dựng bằng vật liệu gỗ, tre, nứa lợp mái tranh và là nơi diễn ra các nghi lễ đánh công chiềng của buôn khi tiếp khách ở nơi xa đến.

Theo Thông Thiện, Tất Sơn (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!
Xem thêm

Bảo tàng Điêu khắc Chăm

Bảo tàng Điêu khắc Chăm được xây dựng từ năm 1915 và chính thức khánh thành vào đầu năm 1919. 

< Nằm ngay trung tâm thành phố, bảo tàng điêu khắc Chăm nổi bật với nước sơn vàng, kiểu dáng kiến trúc độc đáo kết hợp giữa phong cách Pháp và  Chăm. Ngay ở sân trước, ban quản lý đã cho đặt những bức tượng điêu khắc Chăm bằng đá, kích thích sự tò mò của du khách.

Thật ra, hơn 20 năm trước đó, người ta đã tập trung về địa điểm này nhiều hiện vật điêu khắc Chăm được tìm thấy trong vùng Đà Nẵng, Quảng Nam và các tỉnh lân cận. Một bức ảnh chụp vào đầu thế kỷ XX cho thấy địa điểm được chọn để tập trung các hiện vật là một gò đất có nhiều cây lớn, các mảng đài thờ, tượng đá được xếp đặt rải rác ngoài trời.

< Nhìn bên ngoài du khách dễ lầm tưởng không gian bảo tàng nhỏ, nhưng thật ra khá rộng, chia thành các phòng trưng bày: Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mâm và các tỉnh lân cận. Phía sau bảo tàng là gian nhà hai tầng mới xây, tầng một để trưng bày những cổ vật còn cất giữ trong kho. Tầng hai trưng bày tranh ảnh, tài liệu về kiến trúc Chăm và các nền văn hóa khác ở khu vực Đông Nam Á.

< Hiện nay bảo tàng lưu giữ hơn 2000 cổ vật nền văn hóa Chăm, trong số đó có khoảng 500 cổ vật được trưng bày, số còn lại được ban quản lý lưu giữ cẩn thận trong kho. Ba trong số 2000 cổ vật là bảo vật quốc gia  gồm Tượng Bồ Tát Tara, Đài thờ Mỹ Sơn E1 và Đài thờ Trà Kiệu.

Việc thu thập những tác phẩm điêu khắc Chăm bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XIX  được thực hiện bởi những người Pháp yêu ngành khảo cổ học, đặc biệt là của những người làm việc cho Trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp ( L' École francais d' Éxtrême - Orient, viết tắt là EFEO) và những đồng nghiệp Việt Nam. Dulichgo

< Đài thờ Mỹ Sơn E1 là hiện vật tiêu biểu cho kiến trúc đài thờ của khu di tích Mỹ Sơn. Đây là đài thờ duy nhất được tìm thấy có miêu tả nhiều nhân vật và cảnh sinh hoạt cùng cảnh tượng thiên nhiên, động vật, là căn cứ để nghiên cứu về đời sống tâm linh và xã hội của người Chăm cổ đại.

Từ đầu thế kỷ XX, một số hiện vật điêu khắc Chăm đã được chuyển đi Pháp, một số khác được chuyển ra Bảo tàng tại Hà Nội và Bảo tàng tại Sài Gòn, nhưng phần nhiều những tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại tại Đà Nẵng.

< Nền văn hóa Chăm tôn thờ thần Mẹ xứ sở, vì vậy hình ảnh nữ thần và bộ ngực của phụ nữ được sử dụng nhiều trong kiến trúc điêu khắc Chăm.

Ý tưởng về xây dựng ở Đà Nẵng một nhà bảo tàng cho các tác phẩm điêu khắc Chăm đã manh nha từ năm 1902 với một đề án của Khoa Khảo cổ của EFEO và tòa nhà đầu tiên của bảo tàng được chính thức hoàn thành 17 năm sau đó theo thiết kế của hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair. Dulichgo

< Hình ảnh các vị thần mang hình hài động vật, vị thần gắn với các nhân tố tự nhiên như nước, đất, lá, lửa… cũng được sử dụng rất nhiều trong kiến trúc điêu khắc Chăm.

Quá trình xây dựng đề án và vận động để đề án được thực hiện có sự đóng g óp lớn của Henri Parmentier, chuyên gia khảo cổ của EFEO và là một trong những người đầu tiên có đóng góp quan trọng trong việc sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa Chăm. Toàn bộ toà nhà và phong cách kiến trúc ban đầu của bảo tàng vẫn còn giữ lại cho đến ngày nay mặc dầu đã trải qua hai lần mở rộng quan trọng.

< Những bức tượng điêu khắc Chăm chủ yếu được làm bằng chất liệu đá sa cát, những hoa văn vô cùng tinh xảo, độc đáo cho thấy sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của nghệ thuật điêu khắc Chăm thời bấy giờ. Ngoài ra các chất liệu đất nung và đồng cũng được sử dụng rộng rãi.

< Nền văn hóa Chăm chịu ảnh hưởng bởi Phật Giáo của Ấn Độ. Bức tượng Bồ Tát Taza (dịch thành Độ Mẫu, Cứu Độ Mẫu) được làm bằng đồng này là một minh chứng. Đây là một trong những bảo vật quốc gia, một kỉ vật vô giá mà bảo tàng đang trưng bày.

Ngày 02 tháng 7  năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, là một đơn vị độc lập với Bảo tàng Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa - Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng.

< Đài thờ đức Phật, các vị Bồ Tát và đệ tử cũng là minh chứng cho sự phát triển và tầm quan trọng của Phật Giáo trong văn hóa Chăm.

< Nhìn vào lượng khách có mặt có thể dễ nhận ra, bảo tàng Chăm không nhận được nhiều sự quan tâm của du khách Việt, nhưng lại rất dấp dẫn khách nước ngoài. Khách người Việt tới thăm bảo tàng chủ yếu là sinh viên và học sinh đi theo chương trình của nhà trường.

< Đến bảo tàng điêu khắc Chăm bạn sẽ như đi lạc vào quá khứ huy hoàng, sống động của dân tộc Chăm, với những đền thờ nguy nga, tráng lệ - là sự giao thoa giữa nghệ thuật đỉnh cao và thế giới tâm linh huyền bí.

Bảo tàng Điêu khắc Chăm là nơi lưu giữ cổ vật Chăm quy mô nhất cả nước, bảo tàng điêu khắc Chăm là điểm du lịch được nhiều người ghé thăm khi tới Đà Nẵng.

Theo Chammuseum.danang, Trần Việt Anh (Vnexpress)
Du lịch, GO!
Xem thêm
Loading...